Thứ Tư, 24 tháng 9, 2014

tác dụng chữa U phì đại tuyến tiền liệt

U Phì tuyến tiền liệt (PĐLTTTL) hay còn gọi là u xơ tiền liệt tuyến là loại u lành tính, không di căn. Bệnh gặp ở những người lớn tuổi. Bệnh tiến triển từ từ và thường gây ra triệu chứng sau 50 tuổi.


Tiền liệt tuyến là gì?

Tiền liệt tuyến (TLT) là một tổ chức nhỏ bao quanh niệu đạo, nằm ở đáy bàng quang, phía sau xương mu, trước trực tràng và chỉ có ở nam giới. Chức năng chính của tuyến là tiết ra dịch nhầy trắng, có tác dụng trung hoà môi trường axit loãng của tinh dịch, nhờ vậy tinh trùng có điều kiện dễ di chuyển từ âm đạo vào tử cung và vòi trứng.

Tuyến thường phát triển ở tuổi dậy thì, đến khoảng 20-25 tuổi thì bắt đầu ổn định. Tuy nhiên, đến sau 40 tuổi, TLT thường có khuynh hướng phát triển bất thường.


Biểu hiện của bệnh u phì đại tuyến tiền liệt


Khối u tiền liệt tuyến phì đại chèn ép vào niệu đạo gây nên những rối loạn tiểu tiện, với 2 hội chứng đặc trưng sau:

- Hội chứng tắc nghẽn đường tiểu: đi tiểu không hết, vẫn còn nước tiểu ứ đọng trong bàng quang, phải gắng sức rặn, tiểu ngắt quãng, tia nước tiểu yếu, thậm chí không thành tia, đái chỉ nhỏ giọt (người ta thường hay ví người bị PĐLTTTL là “đái ướt mũi giày” là do nước tiểu nhỏ giọt xuống mũi giày) hoặc đái bị tắc xong lại đái tiếp, đi tiểu rất lâu... và nặng hơn có thể bị bí đái hoàn toàn.

- Hội chứng kích thích: luôn luôn có cảm giác rất mót đái, đái không hết, dễ bị đái són, có nhu cầu đi tiểu nhiều lần trong cả ngày và đêm...



Hậu quả mà u xơ TLT sẽ gây nên

Khi u xơ gây chèn ép, ứ trệ nước tiểu sẽ gây nên một số hậu quả: dễ bị viêm đường tiết niệu, nguy hiểm hơn nếu viêm nhiễm này di ngược lên trên gây viêm đài - bể thận là một bệnh nhiễm khuẩn tiết niệu rất nặng. Nếu ứ trệ nặng và kéo dài có thể dẫn đến suy thận mạn tính. Có khả năng chuyển thành ung thư TLT, nếu ung thư TLT được phát hiện sớm thì việc điều trị sẽ dễ dàng và tiên lượng sống sẽ tốt; nếu để muộn, xuất hiện di căn ung thư sang các cơ quan khác thì tiên lượng sẽ xấu hơn rất nhiều. Chính vì vậy, bệnh nhân cần được khám xét kiểm tra định kỳ nhằm phát hiện sớm ung thư (nếu có) để có thể điều trị kịp thời.

Điều trị

Điều trị nội khoa: với những người có triệu chứng rối loạn về tiểu tiện ảnh hưởng đến sinh hoạt hàng ngày thì trước mắt phải điều trị nội khoa. Các thuốc được sử dụng phổ biến nhất hiện nay là thuộc nhóm ức chế alpha 1 có tác dụng làm giãn cơ trơn thành mạch, tiền liệt tuyến và cổ bàng quang giúp làm giảm bớt tình trạng tắc nghẽn niệu đạo ví dụ alfuzosin (Xatral), terazosin (Hytrin), doxazosin, prazosin và tamsulosin. Các thuốc ức chế alpha 1 cũng làm giãn một số cơ vòng khác trong cơ thể và gây tác dụng phụ như giảm huyết áp. Ngoài ra còn một số thuốc khác như các thuốc kháng androgen thường được dùng phối hợp với thuốc trên để làm giảm triệu chứng. Tác dụng phụ của thuốc bao gồm giảm ham muốn tình dục, các vấn đề về cương dương hay phóng tinh.

Ngoài ra có thể sử dụng một số loại dược thảo trong nước đã được nghiên cứu có tác dụng chữa U phì đại tuyến tiền liệt


Điều trị bằng ngoại khoa hầu như là để giảm triệu chứng. Hiện nay phổ biến nhất là áp dụng phương pháp cắt bỏ tiền liệt tuyến bằng nội soi qua đường niệu đạo. Khi tiền liệt tuyến quá to, không sử dụng được phương pháp cắt nội soi thì phải mổ bóc PĐLTTTL.

Ngoài ra có nhiều biện pháp hỗ trợ điều trị khác không dùng thuốc cũng được chứng minh có hiệu quả và hỗ trợ trong điều trị như: ngâm nước ấm toàn bộ vùng chậu hông kết hợp xoa bóp phía ngoài hàng ngày. Uống đầy đủ nước, nhất là mùa hè nhưng luôn nhớ là ưu tiên uống vào ban ngày, sau 19 giờ nên hạn chế uống nước hoặc ăn các loại đồ ăn nhiều nước tránh gây đi tiểu nhiều cả đêm, làm mất ngủ ảnh hưởng đến sức khoẻ.

Dự phòng bệnh


Do nguyên nhân gây bệnh chưa được xác định rõ nên việc phòng bệnh thiên về ngăn ngừa các biến chứng và phát hiện giai đoạn tiến triển của bệnh để đề ra phương án điều trị thích hợp. Bệnh nhân nên ăn uống điều độ, tránh uống rượu, có chế độ lao động, sinh hoạt, vận động và nghỉ ngơi hợp lý, không nên ngồi, nằm lâu một chỗ gây cương tụ máu ở vùng chậu, luyện tập và vận động các cơ có chức năng điều hoà khi đi tiểu tiện và đại tiện như các cơ thành bụng, cơ hoành và các cơ tầng sinh môn, tránh các yếu tố gây viêm đường tiết niệu, ngâm nước ấm tầng sinh môn (37oC trong 20 phút).

Nhiều công trình nghiên cứu của các nhà khoa học về cây Trinh nữ Hoàng cung

U xơ tiền liệt tuyến hay phì đại lành tính tuyến tiền liệt là sự tăng kích thước của tuyến tiền liệt ở nam giới, làm ép vào niệu đạo và bàng quang gây khó tiểu. Tiểu ngập ngừng, cảm giác tiểu không hết, tiểu nhiều lần, số lượng nước tiểu mỗi lần ít, tiểu són là những triệu chứng của bệnh u xơ tiền liệt tuyến. Vì tiểu không hết nên gây tắc đọng vi khuẩn trong bàng quang làm tăng nguy cơ nhiễm trùng tiết niệu.
Đã có nhiều nghiên cứu cho thấy phì đại tuyến tiền liệt là bệnh thường gặp ở người trước đó có cuộc sống căng thẳng, có thói quen uống không đủ nước, sống trong môi trường ô nhiễm, lạm dụng bia rượu, chất béo động vật, chất kích thích (thuốc lá, cà phê...), có bệnh đường tiết niệu trước đó...
Phì đại tuyến tiền liệt là bệnh thường gặp, song rất ít người chú ý tới những thay đổi bất thường khi đi tiểu. Nhiều người thậm chí còn xem nhẹ căn bệnh “đàn ông” này.
Theo thống kê ở Việt Nam hiện nay có tới 45%-70% số nam giới trong độ tuổi từ 45- 50 mắc căn bệnh này, tuổi càng cao thì tỷ lệ mắc bệnh càng lớn. 

Còn theo số liệu thống kê của Tổ chức Y tế Thế giới cho thấy có trên 50% nam giới từ 50-70 tuổi bị u xơ tiền liệt tuyến.

Nếu nam giới gặp phải những vấn đề về sức khỏe khi bước vào tuổi trung niên, thì phụ nữ cũng không phải là ngoại lệ. Cứ 4 - 5 phụ nữ trong độ tuổi trên 35 lại có một người bị u xơ tử cung. Đây là một loại khối u không phải ung thư, xuất hiện trong thời kỳ sinh đẻ. Thường u xơ bắt nguồn từ chỉ một tế bào cơ trơn rồi tiếp tục phát triển lên thành khối u.
Triệu chứng đầu tiên của u xơ tử cung là ra khí hư nhiều do niêm mạc tử cung bị kích thích. Sau đó, bệnh nhân bị rối loạn kinh nguyệt, chảy máu kinh bất thường - nặng hơn hoặc kéo dài hơn, đau bụng hoặc đau lưng vùng thấp, giao hợp đau, triệu chứng thiếu máu - do mất nhiều máu kinh, tiểu khó hoặc tiểu lắt nhắt - do khối u chèn ép lên bàng quang và làm tăng áp lực vùng chậu, gây nguy cơ vô sinh hoặc sẩy thai, táo bón.
Một người có thể có một hoặc nhiều u xơ cùng lúc ở tử cung. Kích thước có thể thay đổi từ hạt đậu đến quả bưởi. U xơ tử cung thường không nguy hiểm, nhưng không vì thế mà xem thường căn bệnh này, bệnh có thể gây khó chịu hoặc gây biến chứng, thường gặp và nguy hiểm nhất là chảy máu. Không ít trường hợp ra máu rất nhiều khi hành kinh do khối u xơ cản trở sự co bóp của tử cung khiến máu chảy nhiều.
U xơ tử cung cũng có thể gây nên một số biến chứng cho thai nghén, chèn ép gây đau và bí đại tiểu tiện. Điều đáng lưu ý là u xơ tử cung thường xảy ra trùng với thời kỳ tiền mãn kinh nên triệu chứng rong kinh dễ bị nhầm là rối loạn kinh nguyệt thời kỳ tiền mãn kinh. 
Vì vậy, bệnh hay bị bỏ sót.

Về điều trị, các thuốc được sử dụng điều trị u xơ tuyến tiền liệt và u xơ tử cung phổ biến thuộc nhóm ức chế thụ thể alpha có tác dụng làm giản cơ trơn, thuốc kháng tiết hormon để ức chế sự phát triển của khối u. 

Tuy nhiên, những thuốc này thường gây tác dụng phụ như nóng bừng mặt, giảm khoái cảm tình dục, loãng xương, hạ huyết áp. Việc chỉ định phẫu thuật được áp dụng với bệnh nhân có khối u to, chèn ép và gây nhiều biến chứng, nhưng bệnh dễ tái phát.
Hiện nay, nhiều bệnh nhân đã sử dụng phối hợp các sản phẩm có nguồn gốc thiên nhiên để nâng cao hiệu quả điều trị. Tiêu biểu đó là OPCrilati được bào chế từ lá cây Trinh nữ hoàng cung (Crinum latifolium). 

Nhiều công trình nghiên cứu của các nhà khoa học về cây Trinh nữ Hoàng cung đã công bố thành phần hóa học với hơn 30 loại alcaloid trong lá cây có tác dụng ngăn chặn sự phát triển của khối u, rất tốt trong việc hỗ trợ điều trị các bệnh u xơ tử cung, u nang buồng trứng, u xơ tiền liệt tuyến.

Thực tế sử dụng OPCrilati Viên Trinh Nữ Hoàng Cung không chỉ làm giảm, làm hết các rối loạn tiểu tiện như tiểu khó, tiểu lắt nhắt mà còn làm giảm sự phát triển, kích thước khối u.
Lời khuyên hữu ích nhất cho những người bước vào tuổi trung niên là khi có các biểu hiện phải nhăn mặt khi tiểu tiện, thì đừng ngần ngại tìm đến thầy thuốc để nhanh chóng được điều trị, nhằm làm giảm nhanh những triệu chứng khó chịu của bệnh, đồng thời ngăn ngừa nguy cơ phát triển thành ung thư của những khối u này.

Theo nghiên cứu y học hiện đại, thành phần dinh dưỡng


Vì giàu dưỡng chất, hoa thiên lý còn được dùng chữa một số bệnh cho kết quả khá tốt như giúp trẻ chóng lớn, giảm chứng phì đại tuyến tiền liệt ở người lớn tuổi, tăng cường sức đề kháng cho cơ thể.


Thiên lý còn gọi là dạ lý hương, dạ lài hương. Theo Đông y, thiên lý có vị ngọt tính bình, giải nhiệt, chống rôm sảy, là một vị thuốc an thần, làm ngủ ngon giấc, giảm tiểu đêm, đỡ mệt mỏi, đau lưng, có tính chống viêm, thúc đẩy chóng lên da non, được sử dụng trị liệu chữa lòi dom, đinh nhọt, trị giun kim…

Vì giàu dưỡng chất, hoa thiên lý còn được dùng chữa một số bệnh cho kết quả khá tốt như giúp trẻ chóng lớn, giảm chứng phì đại tuyến tiền liệt ở người lớn tuổi, tăng cường sức đề kháng cho cơ thể. 

Đặc biệt, sự có mặt của chất kẽm còn giúp tăng chất lượng và số lượng tinh trùng ở những nam giới suy yếu sinh lý, nó giúp cải thiện tình trạng vô sinh ở nam giới bị nhiễm chì.



Liều dùng hoa thiên lý trong các bài thuốc phổ biến từ 20 g đến 30 g (100-200 g tươi). Khi chế biến các món ăn với hoa thiên lý, lưu ý không xào nấu quá chín sẽ làm giảm các dưỡng chất và dập nát cánh hoa, mất ngon.
3 món ăn - bài thuốc dùng hoa thiên lý chữa mất ngủ

Từ lâu, nhiều người đã biết hoa thiên lý có tác dụng chữa mất ngủ. Nhưng ngoài việc dùng hoa thiên lý nấu canh, nhiều người không biết cách phối hợp hoa tiên lý thành các món ăn - bài thuốc để loại thực phẩm này phát huy hiệu quả tốt nhất.

Chúng tôi xin giới thiệu 3 món ăn - bài thuốc từ hoa thiên lý tương ứng với các mức độ mất ngủ khác nhau:

- Chữa mất ngủ: hoa thiên lý 30g, hoa nhài 10g, tâm sen 15g. Sắc lấy nước uống trong ngày, cần uống liền 3 - 5 ngày.

- Để có giấc ngủ ngon: dùng hoa thiên lý nấu canh với thịt lợn nạc hoặc với cá diếc, ăn ngày một lần trong vài ngày liền.

- Chữa mất ngủ thường xuyên: hoa thiên lý nấu canh cùng lá vông nem, mỗi vị chừng 30 - 50g, rửa sạch thái nhỏ nấu chung thành canh, nêm đủ mắm muối, bột nêm cần ăn trong 4 - 7 ngày.
Các bài thuốc chữa bệnh khác của hoa thiên lý
1. Chữa tiểu buốt

Theo nghiên cứu y học hiện đại, thành phần dinh dưỡng có trong cây thiên lý bao gồm: chất xơ 3%, chất đạm 2,8%, và gồm chất bột đường, các vitamin như C, B1, B2, PP và tiền vitamin A (caroten), cùng các khoáng chất cần cho cơ thể như calcium, phospho, sắt, đặc biệt là kẽm (Zn) có hàm lượng khá cao, vì vậy thiên lý vừa là thức ăn và thuốc bổ dưỡng giúp trẻ mau lớn, giúp người già giảm chứng phì đại tuyến tiền liệt vừa tăng sức đề kháng cho người sử dụng. 

Lấy rễ cây thiên lý từ 10 – 20g, sắc lấy nước uống 2 – 3 lần trong ngày. Uống trong 5 ngày.
2. Chữa đinh nhọt

Lấy lá cây thiên lý 30 – 50g, giã nhỏ đắp vào chỗ mụn nhọt, ngày thay 1 lần, vài ba ngày sẽ khỏi.
3. Trị giun kim

Lấy lá thiên lý non nấu canh cho trẻ ăn liền từ 7 – 10 ngày sẽ hiệu quả. Hoặc có thể dùng bài thuốc sau: Hoa thiên lý 30g, rau sam 20g, lá đinh lăng 25g. Ba thứ rửa sạch, sao khô, sắc lấy nước uống trong ngày, mỗi ngày chia làm 3 lần, uống liên tiếp trong 3 ngày.
4. Phòng rôm sảy ngày hè

Hằng ngày nấu canh hoa thiên lý ăn. Với trẻ có thể xay lá và hoa thiên lý ra nấu lẫn với bột khi cho trẻ ăn dặm.
5. Giảm đau mình mẩy, nhức xương cốt

Hàng ngày lấy hoa thiên lý xào với thịt bò ăn sẽ có tác dụng.

Lưu ý, do trong thiên lý chứa kẽm nên khi sử dụng không xào nấu cùng với các thức ăn giàu chất sắt như gan, thịt lợn nạc, rau muống… vì chất sắt có trong các loại thực phẩm này sẽ đẩy kẽm ra khỏi cơ thể.

Thứ Ba, 23 tháng 9, 2014

U xơ tiền liệt tuyến là bệnh thường gặp ở nam giới trung niên trở đi

Theo Đông y, nguyên nhân gây u xơ tiền liệt tuyến là do thấp nhiệt ứ trở - thấp nhiệt dồn xuống phía dưới, rót vào tinh cung, uẩn kết không tan làm cho khí trệ, huyết ngưng, kinh lạc bị ngăn cách. 

Nguyên nhân là do tuyến tiền liệt to dần lên, chèn ép dòng chảy, tùy mức độ nặng nhẹ của bệnh làm cho người bệnh đi tiểu khó, tiểu nhỏ giọt, bí tiểu, đi tiểu đêm nhiều lần, hoặc khi buồn tiểu thì phải đi ngay, không ngừng lại được.




Cỏ tranh


Nguyên tắc điều trị là chống viêm, nhuyễn kiên, khai thông dòng chảy, làm cho u xơ tiền liệt tuyến nhỏ đi. Sau đây là một số bài thuốc trị bệnh:


Thuốc uống

Bài 1: xuyên sơn giáp 3g, huyền sâm 12g, thương nhĩ (sao) 10g, hoàng cung trinh nữ 6g, phòng sâm 12g, hoàng kỳ 12g, đương quy 12g, nga truật 10g, tam thất 10g, trần bì 10g, bạch truật 10g, uất kim 10g, ích mẫu 12g. Sắc uống ngày 1 thang chia 3 lần. Công dụng: chống u bướu, nhuyễn kiên, chống viêm nhiễm. Thời gian dùng thuốc 20 - 25 ngày, nghỉ 7 ngày. Sau đó dùng tiếp đợt 2.

Bài 2: phòng sâm 12g, hoàng kỳ 12g, đương quy 16g, bạch truật 12g, huyền sâm 12g, uất kim 10g, cỏ mực 16g, rễ cỏ tranh 16g, tam thất 6g, đinh lăng 16g, xuyên sơn giáp 3g, hoàng cung trinh nữ 6g, cát căn 12g, cam thảo 10g, hương phụ 10g. Sắc ngày 1 thang, sắc 3 lần uống 3 lần.

- Nếu nước tiểu đục, gia: rau dừa nước 16g, trạch tả 10g.

- Nước tiểu đỏ có lẫn máu, gia: a giao 5g, kinh giới sao đen 12g.

- Nếu có sỏi tiết niệu, gia: rau ngổ 20g, kê nội kim 10g, kim tiền thảo 16g.

- Tiểu không kiểm soát được, gia: thăng ma 12g, chè khô 6g.

- Có viêm nhiễm đau buốt, gia: bồ công anh 16g, ngân hoa 10g, rau dấp cá 16g.

U xơ tiền liệt tuyến là bệnh thường gặp ở nam giới trung niên trở đi, càng cao tuổi tỷ lệ mắc càng cao. 

Thuốc ngâm:

Khi bàng quang đã căng đầy, dòng chảy bị tắc, nước tiểu không chảy ra được. Người bệnh rất khó chịu, đau đớn bứt rứt, không dám cử động, nằm ngồi không yên. Nên dùng bài thuốc ngâm: thạch xương bồ 20g, trần bì 20g, lá đinh lăng 1 nắm, lá hương nhu 1 nắm, hoàng kỳ 20g, sài hồ 20g. Cho các vị vào nồi, đổ nước đun sôi 15 phút. Sau đó đổ ra chậu, chờ cho nước nguội còn khoảng 35o thì cho bệnh nhân ngồi vào chậu nước để ngâm. Sau 5 - 10 phút là đi tiểu được.

Thứ Hai, 22 tháng 9, 2014

Bệnh u phì đại tuyến tiền liệt thường đi kèm

Tuyến tiền liệt là một bộ phận rất nhỏ và chỉ có ở nam giới, nằm ngay dưới bàng quang và trước trực tràng. Khi mới sinh thì tuyến tiền liệt nặng khoảng vài gram nhưng đến tuổi trưởng thành do tác động của nội tiết tố nên có trọng lượng khoảng 20gam… Chức năng của tuyến tiền liệt phần lớn là sản xuất ra tinh dịch để vận chuyển tinh trùng. 

Thông thường tuổi càng cao thì tuyến tiền liệt càng to ra nên gọi là u phì đại tuyến tiền liệt.

 Đây là hiện tượng sinh lý bình thường của sự lão hóa cơ thể. Tuy nhiên, những triệu chứng mà bệnh gây ra những phiền toái, xáo trộn đời sống sinh hoạt, trở thành nỗi ám ảnh của đại đa số nam giới mắc bệnh này.



Dưới đây là một số triệu chứng của u phì đại tuyến tiền liệt mà nam giới cần biết:


1. Số lần đi tiểu tăng lên

Là hiện tượng số lần đi tiểu tăng lên quá 3 – 4 lần vào ban ngày, 1-2 lần vào ban đêm. Khoảng cách giữa 2 lần đi tiểu ngắn, người bệnh lúc nào cũng có cảm giác buồn đi tiểu

2.Tiểu tiện khó

Mặc dù nam giới có cảm giác muốn đi tiểu nhưng phải đứng một lúc trong nhà vệ sinh mới đi tiểu được, dòng nước tiểu nhỏ, cảm giác tiểu tiện không có lực, có lúc đái rắt.

3.Tiểu són

Nước tiểu tự bài tiết không thể kiềm chế khi ngủ. Nghiêm trọng hơn là ban ngày cũng xuất hiện hiện tượng như vậy.

4.Tiểu ngắt quãng

Bệnh u phì đại tuyến tiền liệt thường đi kèm với sự hình thành của sỏi bàng quang, làm cho quá trình đi tiểu đột nhiên bị ngắt quãng.


Các triệu chứng trên sẽ nặng hơn nếu gặp lạnh hay do thường xuyên uống rượu bia hoặc sử dụng thuốc kháng cholinergic và thuốc thần kinh.

Nếu như tiểu tắc nghẽn kéo dài sẽ dẫn đến mệt mỏi, buồn ngủ, buồn nôn, ói mửa và các biểu hiện nhiễm độc đường tiết niệu.

Phì đại tuyến tiền liệt là căn bệnh không nguy hiểm trực tiếp đến tính mạng, nhưng gây những rắc rối, khó chịu trong sinh hoạt hàng ngày và trong đời sống hoạt động tình dục. Vì vậy, để việc điều trị hiệu quả, tránh biến chứng thì người bệnh cần phải đi khám bác sĩ thật sớm khi thấy có những triệu chứng như kể trên. Tuyệt đối không nên tự mua thuốc và điều trị ở nhà vì có thể làm bệnh càng nặng hơn, thậm chí còn nguy hiểm đến sức khỏe và tính mạng. Ngoài ra, người bệnh cũng nên chú ý hơn trong hoạt động vệ sinh bộ phận sinh dục, quan hệ tình dục an toàn, ăn uống và tập luyện điều độ.

Thể tắc niệu đạo (niệu lộ ứ trở)


Theo thống kê ở Việt Nam khoảng 59% đàn ông tuổi 50 và 76,9% đàn ông trên 70 tuổi bị u phì đại tuyến tiền liệt

Y học cổ truyền xếp bệnh này vào phạm trù “long bế”. Nguyên nhân là do ngoại tà xâm nhập làm phế khí không tuyên thông, mất đi chức phận thông điều thủy đạo; do ăn uống không điều độ làm ảnh hưởng đến tỳ vị… Dưới đây xin giới thiệu các bài thuốc theo từng thể bệnh để bạn đọc tham khảo và áp dụng khi cần.

Thể bàng quang hư hàn

Người bệnh đau âm ỉ vùng hạ vị, đi tiểu nhiều lần, khó đi, sức bài niệu bàng quang yếu vỡ, thiếu sự khí hóa và ôn ấm, đi tiểu không thành tia, có khi di niệu hoặc són đái, đau mỏi lưng, lưỡi nhợt, rêu trắng, mạch vô lực. Phép trị: Ôn thận cố sáp. Dùng phương Thúc tuyền hoàn: ích trí nhân 8g, ô dược 8g, hoài sơn 12g điều trị bàng quang hư hàn, hợp với thỏ ty tử hoàn: thỏ ty tử 12g, nhục thung dung 12g, phụ tử 6g, ngũ vị tử 8g, mẫu lệ 12g, kê nội kim 8g, tang phiêu tiêu 8g. Tất cả làm hoàn, ngày uống 12g.







Ích trí nhân, tang phiêu tiêu (tổ bọ ngựa trên cây dâu) là hai vị thuốc trong bài Thúc tuyền hoàn trị phì đại tuyến tiền liệt thể bàng quang hư hành.


Thể bàng quang thấp nhiệt

Người bệnh đi tiểu khó, tiểu nhiều lần, tiểu dắt, tiểu són, nước tiểu ít đỏ và đục. Đái cảm giác nóng niệu đạo, đại tiện táo, sợ lạnh, rêu vàng, chất lưỡi đỏ, mạch nhu sác hoặc trầm nhược sác. Phép trị: Thanh nhiệt, lợi thấp với nâng cao chính khí. Dùng bài Bát chính tán: xa tiền 12g, biển súc 12g, sơn chi tử 12g, đại hoàng 8g, hoạt thạch 16g, cù mạch 12g, cam thảo 4g, mộc thông 8g. Sắc uống ngày 1 thang.

Thể can khí uất trệ

Người bệnh tiểu tiện khó kèm theo tinh thần uất ức, bực tức hoặc đa phiền, hay nổi cáu, miệng đắng, họng khô, tức ngực sườn, hay thở dài, bụng đầy chướng, rêu lưỡi mỏng, mạch huyền. Phép trị: Sơ can giải uất, hành khí lợi thủy. Dùng bài Trầm hương tán: đương qui 8g, bạch thược12g, thạch vĩ 12g, hoạt thạch 12g, qui tử 8g, vương bất lưu hành 12g, quất bì 8g, cam thảo 4g, trầm hương 3g. Sắc uống ngày 1 thang.



Hồng hoa.


Thể tắc niệu đạo (niệu lộ ứ trở)

Người bệnh tiểu tiện nhỏ giọt hoặc dòng nước tiểu như sợi chỉ nhỏ, hoặc đái đau kèm theo đầy chướng bụng dưới, đau chói không di chuyển, hôi miệng, lưỡi tím, có điểm ứ huyết, mạch sáp, phì đại tuyến tiền liệt.

 Phép trị: hành ứ tán kết thông lợi thủy đạo. Dùng bài Đại để đương hoàn: đại hoàng 8g, huyền minh phấn 6g, qui vĩ 8g, quế nhục 4g, sinh địa 12g, xuyên sơn giáp 6g. Ngày uống 12g. Nếu kèm theo khí trệ, huyết ứ thì dùng bàiHuyết phủ trục ứ thang: đào nhân 6g, hồng hoa 6g, đương quy 12g, xuyên khung 8g, ngưu tất 12g, xích thược 12g, cát cánh 6g, chỉ sác 6g, sinh địa 12g, cam thảo 4g). Tất cả làm hoàn, ngày uống 12g.

Bộ phận của dừa cạn dùng làm thuốc

Bộ phận của dừa cạn dùng làm thuốc là lá và phần ngọn của cây, phơi khô sắc uống hoặc chế biến thành dạng trà hoặc giã đắp


Dừa cạn còn có tên là bông dừa, hải đằng. Tên khoa học là Catharanthus Roseus (L.) G. - Don Apocynaceae, được trồng nhiều ở nước ta để làm cảnh. Bộ phận dùng làm thuốc là lá và phần ngọn của cây, phơi khô sắc uống hoặc chế biến thành dạng trà hoặc giã đắp.


Theo Đông y, dừa cạn có tác dụng làm săn, chống viêm, hạ áp, được sử dụng để điều trị một số bệnh: u xơ tiền liệt tuyến viêm đại tràng, khí hư bạch đới, tăng huyết áp, viêm nhiễm phần phụ, kinh bế, zona, phong ngứa, đái tháo đường, vàng da...

 Trong dân gian, người ta dùng lá giã nát đắp lên những vết bỏng làm mát da thịt, giảm đau, chống bội nhiễm.

Sau đây là một số cách dùng dừa cạn làm thuốc:

Trị zona: dừa cạn (sao vàng hạ thổ) 16g, thổ linh 16g, bạch linh 10g, kinh giới 12g, chi tử 10g, nam tục đoạn 16g, cam thảo đất 16g, hạ khô thảo 16g. Sắc uống ngày 1 thang, sắc 3 lần, uống 3 lần. Kết hợp lấy lá dừa cạn, lá cây hòe, lượng bằng nhau, giã nhỏ đắp lên các tổn thương, băng lại. Công dụng: hút chất độc ra ngoài, làm giảm đau nhức.

Trị tăng huyết áp:

Bài 1: dừa cạn 160g, lá đinh lăng 180g, hoa hòe 150g, cỏ xước 160g, đỗ trọng 120g, chi tử 100g, cam thảo đất 140g. Các vị sao giòn tán vụn trộn đều, bảo quản trong hộp kín tránh ẩm. Ngày dùng 40g cho vào ấm, đổ nước sôi hãm, sau 10 phút là được. Uống thay trà trong ngày. Công dụng: an thần hạ áp, làm bền thành mạch, êm dịu thần kinh.



Bài 2: dừa cạn (phơi khô) 16g, nga truật 12g, hồng hoa 10g, tô mộc 20g, chỉ xác 8g, trạch lan 16g, huyết đằng 16g, hương phụ 12g. Sắc uống ngày 1 thang, sắc 3 lần uống 3 lần.

Trị lỵ trực khuẩn: Người bệnh đi ngoài nhiều lần, bụng đau từng cơn, phân có chất nhầy, có máu mũi, sút cân nhanh. Bài thuốc: dừa cạn (sao vàng hạ thổ) 20g, cỏ sữa 20g, cỏ mực 20g, chi tử 10g, lá khổ sâm 20g, hoàng liên 10g, rau má 20g, đinh lăng 20g. Các vị cho vào ấm, đổ 3 bát nước sắc lấy 1,5 bát, chia 3 lần uống trong ngày.

Trị bệnh trĩ: Hoa, lá dừa cạn và lá thầu dầu tía, hai thứ giã nhỏ đắp tại chỗ băng lại. Đồng thời uống bài thuốc sau: dừa cạn (sao vàng) 20g, cỏ mực 20g, phòng sâm 16g, hoàng kỳ 12g, đương quy 12g, bạch truật 16g, thăng ma 10g, sài hồ 10g, trần bì 10g, cam thảo 12g. Ngày 1 thang, sắc 3 lần uống 3 lần. Uống liền 10 ngày, nghỉ 3 - 4 ngày, sau đó tiếp đợt hai.

Trị chứng tiêu khát: dừa cạn 16g, cát căn 20g, thạch hộc 12g, hoài sơn 16g, sơn thù 12g, đan bì 10g, khiếm thực 12g, khởi tử 12g, ngũ vị 10g. Ngày 1 thang, sắc 3 lần uống 3 lần.

Trị u xơ tiền liệt tuyến: dừa cạn 12g, huyền sâm 12g, xuyên sơn 10g, chè khô 12g, hoàng cung trinh nữ 5g, cát căn 16g, bối mẫu 10g, đinh lăng 16g. Ngày 1 thang, sắc 3 lần uống 3 lần.


Trị khí hư bạch đới: dừa cạn 12g, rễ cây bạch đồng nữ 16g, biển đậu 16g, đan sâm 16g, cây chó đẻ 16g, lá bạc sau 16g. Sắc uống ngày 1 thang