Thứ Tư, 19 tháng 11, 2014

suy thận, mỡ máu, tăng huyết áp...không nên sử dụng nội tạng động vật




Nội tạng động vật là một trong những thực phẩm được nhiều người Việt ưa thích. Nhiều món ngon được chế biến hấp dẫn như lòng luộc, gan xào, dạ dày nướng.


Không chỉ là những món ăn ngon, nội tạng động vật còn đem lại nhiều giá trị dinh dưỡng có lợi cho sức khỏe. Tuy nhiên trong nội tạng động vật lại chứa nhiều chất đạm, chất béo và đặc biệt là rất nhiều cholesterol nên nếu ăn nhiều sẽ có hại cho sức khỏe. 

Những người mắc bệnh tăng huyết áp, mỡ máu, ... tuyệt đối không nên ăn hoặc vô cùng hạn chế ăn nội tạng động vật để bảo vệ sức khỏe.




Những người không nên sử dụng nội tạng động vật là người cao tuổi, thừa cân - béo phì nên hạn chế, người mắc các bệnh tăng mỡ máu, tăng huyết áp, đái tháo đường, bệnh gout, thận hư nhiễm mỡ, suy tim... thì không nên ăn các loại phủ tạng.

Người bệnh gout, suy thận, mỡ máu, tăng huyết áp...không nên sử dụng nội tạng động vật.


Lưu ý khi ăn nội tạng động vật: Điều duy nhất cần phải nhận thức rằng các thành phần dinh dưỡng của bộ phận nội tạng động vật chỉ cung cấp đầy đủ các thành phần dinh dưỡng cho người ăn khi nó tuyệt đối an toàn.

Do đó, cần bảo đảm an toàn vệ sinh bao gồm nguồn gốc xuất xứ của nội tạng từ con vật khỏe mạnh, được nuôi dưỡng theo đúng quy trình thực hành chăn nuôi tốt, thực hành thú y tốt (GVP) và đảm bảo quá trình giết mổ, vận chuyển, bảo quản lưu thông đến tay người tiêu dùng đều phải tuân thủ đầy đủ các điều kiện vệ sinh an toàn thực phẩm.

Các bộ phận nội tạng của động vật có nhiều nguy cơ không an toàn cho người sử dụng bởi vì nó giàu chất dinh dưỡng nhưng dễ bị nhiểm bẩn, là môi trường thuận lợi cho vi sinh vật: vi khuẩn, vi rút, ký sinh trùng... phát triển trong quá trình giết mổ, vận chuyển, lưu thông & chế biến không đảm bảo điều kiện vệ sinh.

Ngoài ra, chất lượng VSATTP nội tạng của động vật dùng để ăn phụ thuộc vào chất lượng thức ăn chăn nuôi, điều kiện vệ sinh, chữa bệnh... của con vật đó trong quá trình chăn nuôi, giết mổ, vận chuyển, lưu thông và chế biến tiêu dùng.

Nếu một trong các khâu đó không an toàn như thức ăn chăn nuôi nhiễm hóa chất cao: thuốc trừ sâu, chì, cadimi, asen... hoặc không tuân thủ liệu trình chữa bệnh như dùng quá nhiều kháng sinh, thuốc tẩy giun sán... sẽ để lại dư lượng hóa chất, thuốc thú y cao trong thực phẩm, đặc biệt ở các nội tạng động vật.

Gan, thận, dạ dày, ruột non, ruột già... là nơi tiêu hóa thức ăn và chứa đựng căn bã thức ăn, vì vậy sẽ không an toàn cho người tiêu thụ.

Vì các lý do an toàn vệ sinh của nội tạng nên hầu hết các nước phát triển đã đưa ra quy định an toàn vệ sinh chặt chẽ để kiểm soát chuỗi cung cấp các sản phẩm chế biến từ nội tạng động vật.

Các sản phẩm này phải được sản xuất theo quy trình công nghiệp được kiểm soát theo hệ thống HACCP.

Mặc dù vậy người tiêu dùng ở những nước này từ lâu đã hạn chế hoặc từ bỏ ăn nội tạng động vật.

Ở Việt Nam nước ta, khi các điều kiện đảm bảo vệ sinh trong chăn nuôi, giết mổ, bảo quản lưu thông... còn chưa đầy đủ, hơn nữa các nội tạng trên thị trường hầu hết không có nguồn gốc/địa chỉ tin cậy đồng thời kiến thức thực hành vệ sinh an toàn thực phẩm của người dân còn nhiều hạn chế thì người tiêu dùng cần cân nhắc kỹ lưỡng trước khi tiêu thụ chúng.

Một số câu hỏi gợi ý nên đặt ra cho việc cân nhắc trước khi ăn nội tạng: Làm thế nào để biết nội tạng từ con vật không bị bệnh? Ngày sản xuất từ bao giờ? Điều kiện an toàn vệ sinh trong chế biến như thế nào?...

Tóm lại, đảm bảo chắc chắn an toàn vệ sinh các thức ăn từ nội tạng động vật mới có thể tận dụng được giá trị dinh dưỡng của chúng.

Cách chọn và sơ chế nội tạng động vật: gan phải có màu nâu hoặc màu tím, tay chạm vào có tính đàn hồi, có cảm giác chắc tay và không có mùi lạ.

Tim lợn tươi khi sờ vào phải có tính đàn hồi. Ấn tay vào quả tim sẽ có một chất dịch huyết hồng tươi chảy ra, không có dịch nhầy và không có mùi lạ.

Lòng lợn tươi có màu hồng nhạt, bên ngoài có một màng mỏng, sáng bóng, có độ chắc, có tính đàn hồi, không biến sắc và không có mùi lạ.

Dạ dày tươi có màu trắng hoặc vàng nhạt, có độ dày màu sáng, có tính đàn hồi, chất dịch nhiều, trong lòng dạ dày không có phần cứng hoặc hạt cứng.

Dù có yêu thích nội tạng động vật đến đâu cũng chỉ nên ăn vừa phải. Với người bình thường chỉ nên ăn tối đa từ 2-3 lần trong 1 tuần, mỗi lần đối với người lớn từ 50-70g/1 bữa, còn với trẻ nhỏ mỗi lần chỉ dùng từ 30-50g/1 lần.

Để lựa chọn được nội tạng động vật tươi ngon, đảm bảo an toàn thực phẩm cần lưu ý nhìn màu sắc của sản phẩm (như tim, gan, bầu dục) phải đỏ tươi, bóng, khi ấn tay vào thấy có độ dẻo dính và đàn hồi. Khi mua cần tìm những đại chỉ tin cậy.

Nội tạng nên được chế biến trong ngày. Để tránh mùi hôi, tanh của tim, gan bầu dục nên cắt bỏ thành phần gây hôi rồi trần qua nước sôi trước khi sử dụng, và tránh mùi hôi của dạ dày, lòng cần bóp muối kỹ và trần qua nước sôi.

Nhiều người cho rằng đồ uống có cồn sẽ giúp làm ấm


Người bị cao huyết áp thường gặp một số sai lầm trong cách ăn uống, vận động trong mùa đông. Dưới đây là những lời khuyên dành cho bạn.



Kiểm tra huyết áp thường xuyên

Theo giới chuyên môn, đối với người bị cao huyết áp, thời tiết lạnh đáng sợ hơn là mùa hè nóng bức. Lý do bởi nhiệt độ thấp sẽ khiến các mạch máu co lại, đồng nghĩa áp lực máu tăng lên, từ đó chỉ số huyết áp cũng dễ tăng bất thường.

Không chỉ vậy, cơ thể và áp lực máu sẽ phản ứng với sự thay đổi của nhiệt độ, độ ẩm, thời tiết. Người trên 65 tuổi dễ “gánh chịu” những tác động xấu tới sức khỏe. Do đó, bệnh nhân cao huyết áp nên thường xuyên kiểm tra mức huyết áp của mình.



Kiểm tra huyết áp thường xuyên vào mùa đông. Ảnh minh họa

Thận trọng với đồ uống chứa caphein

Đồ uống chứa caphein bất lợi với bệnh nhân cao huyết áp vì nó có thể khiến tuyến thượng thận của bạn sản sinh ra nhiều aderaline, làm áp lực máu tăng cao. Đặc biệt, đồ uống chứa caphein sẽ gây tác hại xấu hơn với quý ông thừa cân hoặc trên 70 tuổi.


Các chuyên gia khuyên bạn nên hạn chế dùng đồ uống chứa caphein, nếu có thì dùng không quá 200 miligram/ngày, tương đương khoảng 355ml, tránh dùng đồ uống này trước khi vận động vì nó sẽ làm tăng áp lực máu.

Tránh đồ uống có cồn

Nhiều người cho rằng đồ uống có cồn sẽ giúp làm ấm cơ thể trong những ngày mùa đông nhưng thực chất nó lại khiến cơ thể mất nhiệt rất nhanh. Điều này gây bất lợi cho huyết áp. Vì thế trong những ngày mùa đông hay mùa hè, bệnh nhân cao huyết áp nên kiêng rượu bia để phòng cơn tăng huyết áp.

Cân bằng dinh dưỡng

Cắt giảm muối: Lượng muối ăn vào càng nhiều thì huyết áp càng tăng. Do đó, bệnh nhân cao huyết áp nên ăn nhạt, hạn chế nêm muối vào thức ăn. Cảnh giác với những món ăn nhiều muối như đồ ăn đóng hộp, đồ hun khói, dưa muối, cà muối, kim chi...

Ăn đa dạng rau, củ quả: Những thực phẩm này chứa nhiều vitamin, khoáng chất, giúp bình ổn áp lực máu. Mùa đông, hãy ưu tiên ăn rau cần tây, cải cúc, mướp đắng, cà tìm, cà chua, cà rốt vì chúng có khả năng ổn định cao huyết áp.


Hạn chế thịt đỏ, đồ ăn nhanh, đồ ăn nhiều chất béo, nội tạng động vật, hải sản để giảm lượng protein từ động vật cũng như quá trình tích tụ mỡ thừa, cholesterol trong cơ thể. Ưu tiên cá, thịt gà (loại đã bỏ da), nếu dùng thịt lợn, thịt bò thì nên ăn phần nhiều nạc. Khi nấu ăn, nên chế biến theo kiểu hấp, luộc thay vì chiên, xào. Sử dụng dầu thực vật chứa những chất béo có lợi sẽ tốt hơn cho tim mạch, huyết áp.

Chú ý khi vận động

Vào mùa đông, người bệnh không nên dậy quá sớm vì lúc này nhiệt độ còn thấp, sự chênh lệch với nhiệt độ cơ thể dễ khiến các mạch máu co lại, tăng nguy cơ huyết áp. Thậm chí, bệnh nhân có thể bị đột quỵ hoặc tai biến mạch máu não. Tốt nhất không nên tập thể dục quá sớm, hãy vận động trong nhà. Khi ra ngoài nên mặc quần áo ấm, đi găng tay, đội mũ, đi tất để tránh nguy cơ bị nhiễm lạnh.

Bạch Dương

Thứ Bảy, 15 tháng 11, 2014

Khả năng tái hấp thu kém, bài tiết từ tiết niệu giảm


- Người lớn tuổi: Khả năng tái hấp thu kém, bài tiết từ tiết niệu giảm, dẫn đến tình trạng phải đi tiểu nhiều lần hơn, kể cả vào ban đêm.

- Phụ nữ mang thai: tình trạng tiểu đêm xảy ra do các nội tiết tố từ nhau thai tiết ra và do tử cung to ép lên bàng quang. Ngoài ra, chấn thương do sinh nở gây tổn thương niệu đạo cũng là nguyên nhân dẫn đến tình trạng tiểu nhiều, tiểu đêm.

Tiểu đêm nhiều về đêm không phải do bệnh lý.


- Uống nhiều nước vào buổi tối cũng gây ra chứng tiểu đêm. Việc uống nước rất tốt cho cơ thể nó giúp loại bỏ độc tố. Nhưng uống quá nhiều nước có thể dẫn đến tình trạng đa niệu, ảnh hưởng xấu đến sức khoẻ.

- Sử dụng nhiều các chất kích thích: Nếu như sử dụng các chất như bia rượu, cafe nhiều thì cung gây tiểu nhiều vì các chất này gây tiểu nhiều hơn.

Nguyên nhân của tiểu đêm được xuất phát từ cả nguyên nhân bệnh lý lẫn không bệnh lý!


Tiểu nhiều về đêm xuất phát từ bệnh lý

- Vấn đề liên quan đến tuyến tiền liệt: thường gặp nhất là bướu lành tiền liệt tuyến. Đây là bệnh hay gặp ở nam giới, chỉ đứng thứ hai trong các bệnh liên quan đến niệu khoa, nguyên nhân vẫn chưa được xác định. Vấn đề ở đây là: khi tuyến tiền liệt to, sẽ dẫn đến ngăn cản dòng nước tiểu và kích thích bàng quang, và triệu chứng thường gặp là đi tiểu nhiều lần, kể cả vào ban đêm. Có bệnh nhân đi 4 – 5 lần, có người "thê thảm" hơn khi thức trắng đêm bởi cả chục lần đi tiểu.

- Viêm bàng quang: ai cũng biết bàng quang là cơ quan chứa nước tiểu, sau khi đã được thận lọc qua. 

Viêm bàng quang có thể do nhiều nguyên nhân, nhưng dù là viêm bàng quang mãn tính hay cấp tính, bao giờ cũng khiến người bệnh cứ mắc tiểu đêm dù vừa tiểu xong, đi tiểu nhiều lần, không ngoại trừ cả ban đêm và tiểu són.


Tiểu nhiều về đêm gây rất nhiều phiền toái gây cản trở mọi sinh hoạt cũng như tâm lý của người bệnh.Nhiều người bị mắc bệnh nhưng bỏ qua hoặc ngại nói. Nhiều người thì cho rằng tiểu về đêm là do thận yếu điều này có phải thật không.

Để lý giải vấn để này các chuyên gia Phòng khám nam khoa Thiên Tâm chỉ ra rằng:




- Sỏi thận: biểu hiện lâm sàng của sỏi thận rất đa dạng do tuỳ thuộc vào vị trí, độ to nhỏ của sỏi, vào các biến chứng do sỏi gây ra. Trong số các triệu chứng lâm sàng thường kèm theo bao giờ cũng có các biểu hiện như tiểu buốt, tiểu rắt, tiểu đục... cả ban ngày lẫn ban đêm. Cần lưu ý trong nhiều trường hợp hòn sỏi cỡ 4 – 5 mm ở thận vẫn có thể chung sống hoà bình trong nhiều chục năm.
Việc điều trị chứng tiểu đêm là rất quan trọng, bởi nó ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống, công việc, sức khoẻ. Vì vậy, khi có dấu hiệu của chứng tiểu đêm cần đến thăm khám tại các cơ sở y tế để được chẩn đoán. Tuỳ theo nguyên nhân, bác sĩ sẽ có hướng điều trị thích hợp.

Để được hỗ trợ tốt nhất về cách thức khám bệnh bạn có thể gọi điện trực tiếp đến đường dây nóng của chúng tôi 01666 06 55 66 hoặc có thể tư vấn qua yahoo.

sự khác biệt giữa 2 ngón tay này được xác định bởi sự tiếp xúc


Các nhà nghiên cứu cho rằng: sự khác biệt giữa 2 ngón tay này được xác định bởi sự tiếp xúc của nồng độ testosterone ngay từ trong bào thai và nó sẽ ảnh hưởng sâu sắc lên sức khỏe trong giai đoạn sau này của cuộc đời.

Người ta nhận thấy rằng đa phần nam giới đều có ngón đeo nhẫn dài hơn ngón trỏ, trong khi tương quan độ dài giữa 2 ngón ngày ở phụ nữ thì thường bằng nhau. Tuy nhiên, nó cũng có thể thay đổi một cách đáng kể ở mỗi cá nhân.

Cuộc thử nghiệm tiến hành trên 142 bệnh nhân cho thấy: các đối tượng có ngón đeo nhẫn ngắn sẽ phản ứng tốt hơn với dutasteride- một loại thuốc được sử dụng để chống ung thư bằng cách ngăn chặn tác động của testosterone lên u xơ tiền liệt tuyến.

Trong khi đó, những phát hiện mới nhất của các chuyên gia tại trường ĐH Quốc gia Seoul (Hàn Quốc) cho rằng: các bác sĩ có thể dự đoán được khả năng đáp ứng quá trình trị liệu của bệnh nhân nam bằng cách đo độ dài ngón đeo nhẫn của họ.

Với những cánh mày râu có ngón đeo nhẫn ngắn thì nên vui mừng, bởi khả năng hồi phục từ căn bệnh ung thư tuyến tiền liệt, u xơ tiền liệt tuyến của bản thân sẽ tốt hơn rất nhiều.







Các bài kiểm tra đều cho thấy: nạn nhân của căn bệnh ung thư trên đã đáp ứng với thuốc kháng lại các khối u tốt hơn nếu ngón đeo nhẫn của họ ngắn hơn so với ngón trỏ. 

Các nhà khoa học cho rằng: những người đàn ông có ngón đeo nhẫn ngắn sẽ có nồng độ thấp đối với testosterone- một loại hormone làm tăng cường sự phát triển của các khối u xơ tiền liệt tuyến .



Bên cạnh đó, nhiều cuộc nghiên cứu khác cũng cho thấy mối liên hệ giữa độ dài của ngón đeo nhẫn với một loạt các căn bệnh khác như: tim mạch, viêm khớp, trầm cảm, thần kinh…
Ngoài ra người ta còn phát hiện ra rằng: phụ nữ có ngón đeo nhẫn bằng hoặc dài hơn ngón trỏ thì có khả năng định hướng tối hơn; trong khi nam giới có ngón đeo nhẫn dài hơn ngón trỏ thì khả năng chạy nước rút cũng giỏi hơn.

Ho chỉ là triệu chứng của một bệnh nên việc điều trị

Ho chỉ là triệu chứng của một bệnh nên việc điều trị ho phải song song điều trị nguyên nhân gây bệnh thì triệu chứng ho sẽ giảm. Trong trường hợp ho khan do cảm cúm, chỉ cần điều trị chứng cảm cúm thì tình trạng ho cũng dần dần tự khỏi.

Tuy nhiên, khi ho nếu thấy có kèm theo bất kỳ một trong những biểu hiện sau, bạn cần phải đi khám bệnh ngay để có hướng điều trị tích cực, tránh những biến chứng nguy hiểm: ho có đờm xanh, nâu gỉ, vàng, ho ra máu, ho ra mủ có mùi hôi; ho có kèm đau ngực; ho có khó thở hay khò khè; có triệu chứng phù hai chân; ho thường tái đi tái lại vào ban đêm; ho ở người hút thuốc, khi triệu chứng này trở nên nặng hơn; sút cân đột ngột; sốt, vã mồ hôi; khản tiếng ở người ho mạn tính.

Khi dùng thuốc trị ho phối hợp nhiều thành phần gồm: kháng sinh, sát khuẩn (guaifenesin), opioid, các chất làm long đờm, tiêu chất nhầy, đặc biệt là các chất giống giao cảm và kháng histamin - hai chất này có rất nhiều tác dụng phụ nặng nề với những người tăng huyết áp, đái tháo đường, bệnh mạch vành, bệnh tuyến giáp, glaucom, u phì đại tuyến tiền liệt, người mang thai, trẻ em và người cao tuổi, người suy hô hấp, bệnh tim, tai biến mạch máu não.

Các thuốc long đờm, tiêu chất nhầy có thể gây các cục đờm, đôi khi làm tắc nghẽn đường thở, có thể gây tràn dịch phổi (ngập) và phá hỏng lớp chất nhầy bảo vệ niêm mạc dạ dày.

Khi có hiện tượng ho kéo dài, cần đến bác sĩ khám điều trị. Ảnh: M. Thuận


Ho là phản xạ xảy ra đột ngột và lặp đi lặp lại nhằm làm sạch đường thở khỏi bị ứ đọng các chất dịch tiết, chất kích thích, vật lạ, vi khuẩn... Vào mùa hè, dưới tiết trời nắng nóng, cơ thể ra nhiều mồ hôi, cộng với việc bị thay đổi nhiệt độ đột ngột khi ra vào phòng điều hòa... nên cũng rất dễ bị ho.

Các dạng ho thường gặp

Ho là một cơ chế sinh lý bảo vệ cơ thể, nhưng cũng là triệu chứng của một số bệnh. Ho gây phiền toái trong sinh hoạt hàng ngày do đó cần được điều trị dứt điểm. Thông thường hay gặp hai loại ho: ho khan và ho có đờm.

Ho khan: thường gây ngứa họng và không có đờm, loại ho này có thể gây khàn giọng hoặc mất giọng. Ho khan thường là do hít phải những mẩu vụn thực phẩm hoặc hít phải các loại khói bụi gây kích thích như khói thuốc, khói than, mùi hóa chất hoặc có thể phản ứng của cơ thể khi thời tiết thay đổi đột ngột.

Ho khan có thể do tình trạng mới nhiễm vi rút, do cúm hay cảm lạnh, có thể là triệu chứng của các nguyên nhân khác như hen phế quản, trào ngược dạ dày, thực quản, suy tim. Một số người sử dụng các thuốc ức chế men chuyển điều trị tăng huyết áp cũng có thể gây ho khan, khi ngừng thuốc sẽ hết ho. Bệnh nhân ho khan thường vẫn cảm thấy khỏe mạnh, không có cảm giác nặng ngực và khó thở.

Ho có đờm: có đặc trưng là nặng ngực và cơn ho thường khạc ra chất nhầy và đờm. Bệnh nhân có cảm giác nghẹt thở và khó thở, thường làm cho người bệnh mệt lả. Các triệu chứng thường tăng lên khi đi bộ và nói chuyện. Ho đờm có thể là triệu chứng còn lại sau khi viêm họng, viêm mũi và viêm xoang... Nguyên nhân gây ho thường tùy thuộc vào thời gian xuất hiện triệu chứng.

Các thuốc trị ho

Thuốc chữa ho có nhiều loại như siro, viên uống, viên ngậm với nhiều thành phần khác nhau như: chất kháng khuẩn, giảm đau, kháng viêm hoặc thuốc tê.

Thuốc đặc trị ho khan có: codein, eucalyptine, dextromethorphan, pholcodine, calyptin, chericof, neo-codion...

Thuốc trị ho có đờm: mucomyst, mucusan, rinathiol promethafine, terpicod, terpin hydrat... Thông thường mỗi đợt điều trị chỉ nên dùng từ 3 - 5 ngày, không dùng kéo dài.

Ho có đờm thường liên quan đến các bệnh đường hô hấp mạn tính. Việc dùng các thuốc long đờm, tiêu chất nhầy, giãn phế quản kết hợp với corticoid, các enzym (serrapeptase hoặc chymotrypsin) và kháng sinh là khá hữu ích.

Tuy nhiên, các thuốc long đờm, tiêu chất nhầy giúp làm tăng thể tích các dịch tiết đường hô hấp để chúng dễ bị bật ra ngoài, tránh vướng cổ gây khó chịu.

Thuốc có thể gây các cục đờm, đôi khi làm tắc nghẽn đường thở, có thể gây tràn dịch phổi (ngập) và phá hỏng lớp chất nhầy bảo vệ niêm mạc dạ dày. Cần thận trọng với người có tiền sử loét dạ dày - tá tràng. Không dùng loại thuốc này cho người suy hô hấp, hen suyễn, trẻ em và phụ nữ cho con bú.

Lưu ý đặc biệt khi điều trị ho

Không dùng thuốc làm giảm ho trong trường hợp ho có đờm (trong bệnh viêm phế quản mạn, giãn phế quản) vì ho được coi như cơ chế bảo vệ có lợi, làm sạch đường thở.

Cần cân nhắc và thận trọng với các biệt dược như ameflu, atussin, tiffy... vì đó đều là những thuốc phối hợp từ 3 - 5 chất, ngoài tác dụng phụ lại còn tương tác bất lợi với các thuốc khác dùng cùng lúc. Do vậy, người bệnh cần tuân thủ chặt chẽ chỉ định của thầy thuốc.

Thứ Năm, 13 tháng 11, 2014

biết hiện nay trên thị trường đang lưu hành một số loại thuốc có nguồn gốc đông dược

Được biết hiện nay trên thị trường đang lưu hành một số loại thuốc có nguồn gốc đông dược như: Vitin, Agynax, đặc biệt có loại thuốc Viên bao phim Rheumatin có thành phần là cao rắn biển và cao hy thiêm đang được rất nhiều người mắc các bệnh về khớp sử dụng.

Rắn biển - phương thuốc điều trị khớp hiệu quả trong y học phương Đông

Rắn biển có tên khác là đẻn biển, đẹn, hèo, có rất nhiều loài, nhưng chỉ có vài loài được dùng làm thuốc. Từ ngày xưa cha ông ta đã biết sử dụng rắn biển để điều trị các bệnh về khớp dưới dạng rượu thuốc. Các phân tích hóa học cho thấy trong rắn biển có chứa rất nhiều flavonoid, các a xít amin thiết yếu, các nguyên tố vi lượng cần thiết, trong mật rắn có chứa các a xít cholic, các chenodesoxycholic, đây là các liên hợp có tác dụng chống viêm, giảm đau rõ rệt và ngoài ra còn có tác dụng tăng lực, tăng trọng.

Ở dạng bào chế, các kết quả thử tác dụng lâm sàng cho thấy có tác dụng đặc trị với các bệnh cơ xương khớp, viêm đa khớp dạng thấp, thoái hóa và đau cột sống, viêm thần kinh tọa…

Ở nước ta, tỷ lệ mắc các bệnh về khớp rất cao, trên 60% ở những người lớn tuổi, trên 90% những người trên tuổi 40 đã bắt đầu có những biến đổi ở xương khớp nhưng chưa có biểu hiện lâm sàng.

Nguyên nhân do lão hóa, lao động thể lực, chế độ dinh dưỡng, ít vận động hoặc vận động quá mức… Đặc biệt, sự thay đổi của thời tiết như chuyển mùa, nóng lạnh thất thường, lúc khô hanh, khi ẩm ướt như hiện nay lại càng khiến số người mắc bệnh khớp gia tăng. Cho nên việc sử dụng các loại thuốc điều trị khớp cần phải hết sức lưu ý, thận trọng bởi các tác dụng phụ rất nguy hiểm.

Tác dụng phụ không mong muốn

Hiện nay để điều trị khớp và giảm các cơn đau, rất nhiều bệnh nhân thường sử dụng các thuốc có chứa corticoid như: prednisolone, dexamethasone, beta-methasone... hay các thuốc nhóm kháng viêm không steroid như aspirin, diclofenac, ketoprofen, ibuprofen... Sử dụng các loại thuốc này sẽ gây nhiều ảnh hưởng và các tác dụng phụ rất nguy hiểm. Việc sử dụng các thuốc có chứa corticoid rất phổ biến, thuốc giúp giảm đau nhanh nhưng tác dụng không lâu, do đó phải sử dụng liên tiếp và kéo dài, nếu ngưng thuốc, bệnh nhân sẽ bị đau lại. Sử dụng lâu dài, bệnh nhân sẽ bị béo phì (do giữ nước), tứ chi bị teo nhỏ do teo cơ, có thể bị loãng xương, làm xương dễ gãy, ngoài ra còn xảy ra các biến chứng tiểu đường, tim mạch. Các thuốc nhóm kháng viêm không steroid gây nhiều tác hại trên đường tiêu hóa như làm viêm loét, chảy máu hay thủng dạ dày tá tràng, gây tiêu chảy; Có nhiều tác dụng phụ trên gan, thận và gây rối loạn đông máu.

Cần thận trọng khi sử dụng

Khi dùng thuốc giảm đau kháng viêm không steroid, hay corticoid, bệnh nhân cần được kiểm soát chặt chẽ. Đa số các tác dụng không mong muốn thường có thể phục hồi hoặc giảm thiểu bằng cách giảm liều từ từ. Việc sử dụng thuốc, uống sau khi ăn sẽ hạn chế kích ứng đường tiêu hóa có thể xảy ra. Người bệnh đang trong giai đoạn điều trị nên hạn chế dùng natri và bổ sung kali và cần phải tăng khẩu phần ăn nhiều chất đạm. Có thể dùng thêm can xi và vitamin D để giảm nguy cơ loãng xương do thuốc trong quá trình điều trị kéo dài. Những người có tiền sử hoặc có yếu tố nguy cơ loét dạ dày phải được chăm sóc bằng thuốc chống loét (thuốc kháng a xít, đối kháng thụ thể H2, hoặc ức chế bơm proton).

Thời gian gần đây, bên cạnh các phương pháp điều trị bằng thuốc tây y, điều trị các bệnh về khớp bằng y học cổ truyền tỏ ra rất hiệu quả và cần thiết. Đặc biệt là các loại thuốc đã được nghiên cứu chiết xuất, tổng hợp từ các loại đông dược (thuốc có nguồn gốc đông dược), được sản xuất với công nghệ hiện đại. Bệnh nhân bị các bệnh về khớp cần phải điều trị lâu dài và uống thuốc suốt đời, cho nên việc sử dụng các loại thuốc này rất an toàn mang lại hiệu quả lâu dài, tuy tác dụng không nhanh bằng thuốc tân dược nhưng ưu điểm của các loại thuốc này là có thể điều trị phối hợp, điều trị kéo dài mà không gây tác dụng phụ, không gây kích ứng dạ dày, rất an toàn cho các bệnh nhân khi điều trị các bệnh về khớp.


Một công trình nghiên cứu khoa học quy mô về rắn biển của các giáo sư, tiến sĩ đầu ngành y dược VN đã thành công trong việc nghiên cứu, chiết xuất từ 4 loại rắn biển: 

Lapemis hardwickii (đẻn cơm), hidroiphis cyanocinetus (đẻn rồng/đẻn đai xanh), microcephalis gracilis (đẻn ghim/đẻn đầu nhỏ), thalassephina viperina (đẻn lục) thành cao rắn biển, được phối hợp với cao hy thiêm (cây hy thiêm có tác dụng giảm đau, chữa gân cốt mềm yếu, tứ chi tê buốt), việc phối hợp này làm tăng tác dụng kháng viêm, giảm đau, chữa trị rất hiệu quả các bệnh: thấp khớp,viêm đa khớp bán cấp, thoái hóa khớp, các chấn thương cơ xương khớp, đau lưng, đau dây thần kinh, nhức mỏi chân tay...

Nước trái lựu có tính chất kháng ôxy

Trái lựu: Nước trái lựu có tính chất kháng ôxy. Tháng 7/2006, Viện Đại học Los Angeles chứng minh nước ép trái lựu có hiệu quả đối với một số ung thư. Cho nên, để ngăn ngừa ung thư, các chuyên gia khuyên nên uống mỗi ngày 200 ml nước ép trái lựu.

Cà chua: Sắc tố đỏ của cà chua có khả năng bảo vệ tiền liệt tuyến. Cà chua được cơ thể hấp thu dễ dàng khi được nấu chín: canh, xốt... và nếu dùng kèm với một ít dầu, lycopen dễ dàng được hấp thu hơn.
Vitamin E (tocopherol): Chế độ ăn giàu vitamin E giảm nguy cơ mắc ung thư tiền liệt tuyến, u xơ tiền liệt tuyến. 
Dầu thực vật là nguồn tocopherol tự nhiên quan trọng, trong đó đáng chú ý là dầu hướng hương, dầu đậu nành.

 Tuy nhiên, cần chú ý các loại dầu mỡ phối hợp gồm những acid béo mà thành phần chính là dầu hydro hóa, sản xuất từ dầu thực vật thể lỏng hoặc các mỡ động vật như mỡ gia súc lại là những nhân tố góp phần thúc đẩy u xơ tiền liệt tuyến, ung thư tiền liệt tuyến phát triển. Do vậy, khi lựa chọn các sản phẩm dầu thực vật cần hết sức chú ý.

Các nghiên cứu trên thế giới đều cho thấy, khoảng 30% - 50% u xơ tiền liệt tuyến có liên quan đến chế độ ăn uống.


Ung thư tiền liệt tuyến là ung thư thường thấy ở nam giới trên 50 tuổi. Các nghiên cứu trên thế giới đều cho thấy, khoảng 30% - 50% ung thư tiền liệt tuyến có liên quan đến chế độ ăn uống. Sau đây là một số điểm đáng chú ý với những người có u ở tuyến này:






Trái cây và rau cải: Nhiều loại rau xanh và hoa quả tươi như cà rốt, cam, chanh, đu đủ, gấc; các loại rau tươi: rau muống; các loại rau thơm,...là những thực phẩm nên sử dụng. Ngoài việc cung cấp dinh dưỡng, vitamin, thì trong các loại thực phẩm này còn có các flavonoid có tính chất oxy hóa mạnh, có tác dụng bảo vệ tim mạch và chống ung thư.