Thứ Năm, 12 tháng 12, 2013

Thông tin y học về bệnh nhân u xơ tiền liệt tuyến

Thông tin y học về bệnh nhân u xơ tiền liệt tuyến, u bàng quang

Cách ngày nhập viện 1 tháng bệnh nhân vào viện vì tiểu khó, bệnh nhân được nội soi với chẩn đoán u bàng quang nhưng do u lớn không thể cắt được. Sau nội soi bàng quang bệnh bị bí tiểu nên được dẫn lưu bàng quang trên xương mu. Một tuần sau bệnh nhân được xuất viện. Tuy nhiên về nhà được 5 ngày thì bục vết mổ do nhiễm trùng và khối u ngày càng lồi ra ngoài thành bụng, vì vậy bệnh nhân tái nhập viện và được chuyển lên tuyến trên sau 3 ngày.
Bệnh nhân được nhận vào khoa Ngoại Tiết Niệu bệnh viện Trung ương Huế để điều trị tiếp
Ghi nhận lúc nhập viện: .
- Khối u lớn thoát ra ngoài thành bụng ở vết mổ đường giữa trên xương mu, nước tiểu dò ra xung quanh u.

Hình 1 A,B: Khối u lồi lên thành bụng
- Siêu âm: cho kết luận thoát vị bàng quang và u xơ tiền liệt tuyến lớn
- Thể trạng và các chức năng của các cơ quan khác bình thường.
- Kết quả CT cho thấy U sùi bàng quang ở mặt trước xâm lấn xuyên thành bụng và dính vào tiền liệt tuyến, có nhiều hạch ở ngách tiểu khung 2 bên.




H2A,B: Hình ảnh CT bụng cho thấy khối u từ bàng quang vượt ra ngoài thành bụng

Kết quả sau phẫu thuật lần 2 về u xơ tiền liệt tuyến


Bệnh nhân được phẫu thuật ngày 04/01/2011 với chẩn đoán theo dõi u bàng quang. Kết quả phẫu thuật cho thấy khối u chính là u phì đại tuyến tiền liệt. Khối quá u lớn, lồi ra ngoài thành bụng theo vị trí vết mổ bị bục.
Kết quả giải phẫu bệnh lý là PĐLT TTL.
Bệnh nhân sau phẫu thuật ổn định và xuất viện sau 1 tuần.



H3: Khối u là khối phì đại tuyến tiền liệt




H4 A,B: Khối u được bóc ra ngoài



H5: Hình ảnh đại thể sau khi bóc ra ngoài



Phì đại lành tính tuyến tiền liệt (PĐLT TTL), hay theo từ thường gọi trước đây là u xơ tiền liệt tuyến là một loại u lành tính thường gặp trong bệnh lý của hệ tiết niệu và thường xuất hiện ở nam giới lớn tuổi. PĐLT TTL được xem như là một phần bình thường trong quá trình lão hóa ở nam giới và về mặt nội tiết tố thì phụ thuộc vào sự sản sinh của testosterone và dihydrotestosterone (DHT). Người ta ước tính khoảng 50% nam giới quanh 60 tuổi cho thấy có biểu hiện PĐLT TTL trên phương diện giải phẫu bệnh lý. Con số này sẽ tăng lên đến 90% ở tuổi 85, và hiển nhiên là sự gia tăng kích thước cũng được xem như là một phần bình thường của quá trình lão hóa.


Mặc dù có thể thấy PĐLT TTL xuất hiện ở người trẻ < 30 tuổi, nhưng chủ yếu là ở nam giới trên 60 tuổi. U phát triển gây chèn ép ở vùng cổ bàng quang (BQ), gây ra rối loạn bài xuất nước tiểu và các biến chứng như nhiễm trùng đường tiểu, bí tiểu… làm ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống.
Thể tích của TTL có thể tăng theo thời gian ở nam giới bị PĐLT TTL. Thêm vào đó tốc độ dòng tiểu cực đại, thể tích nước tiểu, và các triệu chứng có thể ngày càng xấu đi theo thời gian nếu PĐLT TTL không được điều trị. Nguy cơ bí tiểu cấp và cần can thiệp phẫu thuật cũng tăng theo tuổi.
Việc chẩn đoán PĐLT TTL thường không khó. Gần đây các tiến bộ về phương tiện chẩn đoán và điều trị, cũng như những hiểu biết sâu sắc hơn về sinh lý bệnh học của PĐLT TTL đã góp phần cải thiện bệnh lý này một cách đáng kể.
Nam giới trên 40 tuổi thường bắt đầu có những nhân phì đại của TLT, tuy nhiên chỉ có khoảng 1/10 là có biểu hiện triệu chứng tắt nghẽn. Kiểu và mức độ phì đại tuyến dường như thay dổi theo chủng tộc: nam giới thuộc người Celtic thường có kích thước u xơ lớn hơn người Anglo - Xacxon. Kích thước u xơ ở người Anglo- Xaxon lại thường lớn hơn u xơ ở người vùng địa trung hải. Không có chủng người nào có khả năng miễn dịch đối với bệnh lý này
Vai trò của Dihydro testosteron (DHT) được cho là có vai trò trong việc hình thành PĐLT TTL
Về mặt cấu trúc, vì một lý do chưa được biết rõ, sự tăng sản xuất hiện và có thể tác động đến mỗi thành phần cấu tạo nên TLT. Hoặc là tác động đến phần tuyến tạo nên u tuyến (adenom). Hoặc là lên phần cơ và sợi tạo nên u xơ (fibromyome). Tuy nhiên thường thấy hơn cả là bao gồm cả 2 yếu tố trên, tạo nên u xơ cơ tuyến (Adenofibromyome).
Thông thường PĐLT TTL phát triển dưới dạng hai thuỳ bao bọc quanh phần đầu của niệu đạo. Đôi khi có dạng 3 thuỳ , 1 thuỳ giữa cà 2 thuỳ bên. Hiếm gặp hơn là một thuỳ giữa đơn độc , phát triển lồi vào trong lòng bàng quang. Trong trường hợp này khó có thể cảm nhận được khi thăm trực tràng.
Cân nặng trung bình của PĐLT TTL là 30 - 40g, đôi khi có thể lên đến 150 - 200g hoặc hơn.
Do phía dưới bị ngăn cản, nên PĐLT TTL chỉ có thể phát triển về phía vùng ít bị ngăn cản hơn, lên trên về phía cổ bàng quang. Trong tất cả các trường hợp, PĐLT TTL phát triển sẽ đẩy và chèn ép phần TLT còn lại ra phía ngoại vi và chúng tách biệt nhau bởi một mặt phẳng bóc tách. Do vậy, người ta có thể bóc tách phần phì đại ra khỏi phần tuyến còn lại trong phẫu thuật bóc u xơ TLT.
Trong y văn, một số tác giả đã công bố nhiều công trình nghiên cứu về PĐLT TTL, tuy nhiên với khối u kích thước như trong trường hợp trên thì chưa thấy. Đây là một trường hợp hiếm gặp. Chắc chắn khối u đã được phát triển qua một thời gian dài, tuy nhiên phải đến khi quá lớn mới xuất hiện tiểu khó, điều này cũng đã được y văn ghi nhận kích thước khối u và triệu chứng khong tương xứng với nhau

Thứ Ba, 10 tháng 12, 2013

Những nguyên nhân của tiểu rắt ra máu

Tìm hiểu cặn kẽ về nguyên nhân tiểu rắt

Những bệnh viêm thận cấp tính, viêm thận mãn tính, nhiễm trùng đường tiết niệu, sỏi đường tiết

niệu và u đường tiết niệu là do bị tiểu rắt

Nguyên nhân thường gặp dẫn tới hiện tượng này ở nam giới là gì? Dưới đây là một số nguyên nhân thường gặp:

1, Sỏi đường tiết niệu: triệu chứng tiểu ra máu có kèm đau quặn ở thận hoặc có các triệu chứng

như: tiểu ngắt quãng, tiểu khó, tiểu buốt…

2, Viêm thận, tiểu cầu thận cấp tính: tiểu ra máu kèm tiểu ít, nước tiểu nhiều đạm, huyết áp cao,

người bệnh viêm amidan trước khi phát bệnh một tuần.

3, Lao thận: có tới hơn 90% người bệnh lao thận bị tiểu ra máu, triệu chứng tiểu gấp, tiểu nhiều

lần, tiểu buốt càng ngày càng nghiêm trọng.

4, Viêm bể thận: tiểu ra máu kèm tiểu buốt, tiểu cấp, tiểu nhiều lần, đau lưng, sốt.



tiểu rắt ra máu có thể là dấu hiệu của các bệnh sỏi đường tiết niệu


5, Ban xuất huyết dị ứng: Loại bệnh này có xuất hiện những nốt xuất huyết bên ngoài da, xuất

huyết dạ dày đường ruột, đau khớp. Sau khi xuất hiện những nốt xuất huyết từ 2 – 4 tuần thì có

hiện tượng đi tiểu ra máu.

6, Tổn thương thận và niệu đạo: thường có tiền sử tổn thương ở phần lưng hay bụng, như va đập,

tai nạn.

Các bạn nếu phát hiện mình có hiện tượng tiểu rắt ra máu hãy đến ngay các cơ sở y tế chuyên

khoa để khám và có các phương pháp điều trị kịp thời.

Tiểu buốt ở nữ có phải viêm niệu đạo không?

Tác hại của Tiểu Buốt có dẫn đến Viêm Niệu Đạo không? Sau đây là giải thích của các Chuyên gia Phòng khám:


Do cấu tạo của niệu đạo của của nữ ngắn hơn so với nam giới, dễ bị vi khuẩn xâm nhập, ngoài ra mùa hè thường ra

nhiều mồ hôi âm đạo bị ẩm ướt trong thời gian dài, sẽ dễ dẫn đến các bệnh về đường tiết niệu. Khi điều trị bệnh cần

hiểu rõ nguyên nhân gây bệnh cần đi khám để được chuẩn đoán, không nên tự ý điều trị, tự mua thuốc về dùng,

tránh tình trạng làm bệnh nặng hơn.

Các chuyên gia cho biết: Tiểu buốt không hoàn toàn là triệu chứng của viêm niệu đạo, tất nhiên Viêm Niệu Đạo có


triệu chứng này.

Các triệu chứng của viêm niệu đạo nguyên nhân có thể do tiểu buốt:

+ Viêm niệu đạo đơn giản không gây sốt hoặc bệnh tật nghiêm trọng. Tuy nhiên, nếu bệnh lây lan đến các cơ quan

khác  trong đường sinh dục hoặc đường  tiểu hoặc đường máu, nó có  thể có các dấu hiệu sau đây: đau lưng, đau

bụng, sốt cao

+ Tiểu nhiều lần, tiểu cấp dẫn đến co thắt nặng ở niệu đạo, khi kiểm tra có thể xuất hiện mủ và máu trong nước

tiểu.

+ có thể viêm niệu đạo ngứa, đau hoặc sưng ở âm vật, đau khi giao hợp hoặc có máu trong nước tiểu

+ Niệu đạo bị kích thích không có biểu hiện rõ ràng như giai đoạn mãn tính, một số bệnh nhân không có triệu chứng

này.

Làm thế nào để tránh tiểu buốt


Nếu triệu chứng này diễn ra trong khoảng thời gian dài nên đi kiểm tra, bởi vì kéo dài có thể dẫn đến nhiễm trùng

niệu đạo. Bạn có thể đến bệnh viện làm xét nghiêm, siêu âm để biết chính xác về nguyên nhân nhiễm trùng đường

tiết niệu, viêm niệu đạo cũng như Viêm âm đạo.

Thứ Hai, 9 tháng 12, 2013

Biến chứng và tiến triển của bệnh u phì đại

U phì đại lành tính tuyến tiền liệt là loại u lành tính, không di căn. 

Bệnh u phù đại này thường gặp ở những người cao tuổi. 
Triệu chứng:
+ Giai đoạn1:
- Là giai đoạn cơ năng, chưa có tổn thương thực thể.
- Đái khó, phải rặn đái lâu, dòng nước tiểu yếu, thời gian bãi đái kéo dài.
- Đái nhiều lần về đêm.
+ Giai đoạn 2:
- Đã có tổn thương thực thể.
- Nước tiểu tồn dư trên 100ml.
- Đái khó và đái nhiều lần tăng lên gây ảnh hưởng tới sinh hoạt và giấc ngủ.
- Có biểu hiện của nhiễm trùng. đường tiết niệu do sự ứ đọng nước tiểu.
+ Giai đoạn 3:
- Đã ảnh hưởng tới chức năng thận và sự thích ứng của cơ thể giảm sút nhiều.
- Lượng nước tiểu tồn dư tăng.
- Tình trạng nhiễm trùng đường tiết niệu nặng nề hơn.
- Đái khó tăng lên đến lúc gần như lúc nào cũng rặn đái.
- Có khi lại dẫn đến tình trạng nghịch lý là đái rỉ liên tục do nước tiểu tràn đầy.
- Xuất hiện các triệu chứng của suy thận như buồn nôn, ăn chậm tiêu, mệt mỏi...
Sự tiến triển của 3 giai đoạn này không phải lúc nào cũng theo trình tự xuất hiện, nó phụ thuộc vào các yếu tố: sự tăng trưởng của tuyến, sự thích ứng của cơ thể và cách sinh hoạt của từng người. Tuy nhiên bất cứ giai đoạn nào của bệnh, bí đái cấp tính cũng có thể xảy ra và đặt bệnh nhân trong tình trạng cấp cứu.
+ Có thể tóm tắt triệu chứng cơ năng thành hai hội chứng sau:
- Kích thích (Irritation syndrôm): Đái nhiều lần, đái vào ban đêm, đái vội, đái không tự chủ do quá mót đi đái.
- Tắc nghẽn (Obtrue syndrôme): Đái ngập  ngừng, ngắt quãng. Đái sót cuối cùng, đái không hết nước tiểu. Tia nước tiểu hai dòng, dòng nước tiểu yếu. Cảm giác đái không hết nước tiểu. Bí đái, đái không tự chủ do nước tiểu tràn đầy.

Bệnh u phì đại có thể gây ra nhiều biến chứng do làm tắc đường dẫn niệu. 

 Tuyến tiết ra dịch nhầy trắng, dịch của tuyến có tác dụng trung hoà môi trường axit loãng của tinh dịch, nhờ vậy tinh trùng có điều kiện dễ di chuyển từ âm đạo vào tử cung và vòi trứng. Theo một số tác giả thì dịch của tuyến tiền liệt có tác dụng kích thích cho tinh trùng sau một thời gian dài giữ lại ở mào tinh hoàn tiếp tục di chuyển và trung hoà môi trường axit của âm đạo, ngoài thời gian phóng tinh tuyến tiền liệt không tiết dịch. Tuyến tiền liệt được nuôi dưỡng bởi hai nguồn mạch, từ động mạch bàng quang dưới (a.vesicalis inferior) và từ động mạch trực tràng giữa (a.restalis media).
U phì đại tiền liệt tuyến có thể gây nhiều biến chứng nguy hiểm!


Biến chứng và tiến triển.

3.1. Bí đái hoàn toàn:có thể gặp bất kỳ giai đoạn nào của bệnh, đây cũng là lý do thường gặp buộc bệnh nhân phải tới viện.
3.2. Bí đái không hoàn toàn: gặp giai đoạn 2 và giai đoạn 3 của bệnh, khi đã có nước tiểu tồn dư trong bàng quang (ngay sau khi đi tiểu, đặt thông niệu đạo nước tiểu còn trên 100 ml).
3.3. Sỏi bàng quang: sỏi được hình thành thứ phát do sự ứ đọng nước tiểu trong bàng quang. Khi sỏi bàng quang được hình thành lại càng làm tăng các triệu chứng rối loạn tiểu tiện.
3.4. Đái máu: UPĐLTTTL đơn thuần rất hiếm gặp biến chứng đái máu. Biến chứng này thường do đặt thông  đái không đúng kỹ thuật, do nhiễm trùng, do sỏi bàng quang.
3.5. Túi thừa bàng quang: do ứ đọng nước tiểu, bàng quang căng dãn quá mức, bàng quang mất tính chất đàn hồi.
3.6. Nhiễm trùng đường tiết niệu: là biến chứng khó tránh, nó làm cho quá trình bệnh lý của bệnh thêm phức tạp. Các triệu chứng toàn thân và tại chỗ xuất hiện rầm rộ hơn (sốt cao, rét run, nước tiểu đục, chán ăn, mệt mỏi ...).
3.7. Suy thận: gặp ở giai đoạn cuối của bệnh. Là kết quả ứ đọng nước tiểu kéo dài gây dãn niệu quản, dãn đài bể thận, viêm đài bể thận ngược dòng. Bệnh nhân trong tình trạng thiếu máu, buồn nôn, chán ăn, một mỏi, phù, huyết áp cao, thiểu niệu, vô niệu, hôn mê do suy thận.

tiềm ẩn bệnh bướu lành tiền liệt tuyến

tiềm ẩn bệnh bướu lành tiền liệt tuyến ( u xơ tiền liệt tuyến lành tính)

Khi nam giới bước sang tuổi trung nên có hiện tượng khó tiểu, tiểu lắt nhắt, tiểu như không ra hết thì hãy coi chừng có thể bị bướu lành tiền liệt tuyến (trước đây gọi là u xơ tiền liệt tuyến lành tính).
iền liệt tuyến chỉ có ở hệ sinh dục nam, có nhiệm vụ sản xuất ra tinh dịch, giúp vận chuyển tinh trùng trong lúc phóng tinh. Nó được tạo bởi mô cơ và mô tuyến, trong đó mô tuyến chiếm 70%.
Tiền liệt tuyến là một tuyến có hình dáng và kích thước thước tương tự quả óc chó. Nó nằm trước trực tràng, ngay dưới cổ bàng quang và bao quanh niệu đạo. Niệu đạo là một ống cơ mà nước tiểu từ bàng quang qua đó được thải ra ngoài khi đi tiểu. Vì thế, biểu hiện đầu tiên của bướu lành tiền liệt tuyến là hiện tượng khác thường trong lúc đi tiểu. T
Bướu lành tiền liệt tuyến là sự gia tăng kích thước lành tính của tuyến tiền liệt do sự gia tăng bất thường số lượng tế bào, hậu quả là niệu đạo bị chèn ép và tắc nghẽn dòng tiểu. Bướu lành tiền liệt tuyến thường gặp ở người lớn tuổi, từ 50 tuổi trở nên (có từ một phần ba đến một phần hai số nam giới trên 50 tuổi bị mắc bệnh này). Nếu trên 80 tuổi, khoảng 90% cụ ông bị bướu lành tiền liệt tuyến.
Cho đến nay, y học vẫn chưa xác định được chính xác nguyên nhân gây bướu lành tiền liệt tuyến. Tuy nhiên, có hai vấn đề được nhắc đến nhiều là yếu tố di truyền và yếu tố nội tiết làm giảm việc sản xuất testosterone. Testosterone là nội tiết tố sinh dục nam chính yếu, được sản xuất bởi tinh hoàn (ở nữ, testosterone được sản xuất bởi buồng trứng) và một phần nhỏ bởi tuyến thượng thận. Về yếu tố di truyền, các nhà khoa học thấy rằng nguy cơ gia tăng 30% ở nam giới có cha hay chú, bác bị bướu lành tiền liệt tuyến. Về yếu tố nội tiết, người có tuổi thường bị giảm mức sản xuất testosterone gây kích thích sự hoạt động của các chất, thúc đẩy sự tăng sinh tế bào, dẫn đến tăng sinh lành tính tiền liệt tuyến. Trong yếu tố nội tiết, còn có một nguyên nhân nữa là sự gia tăng sản xuất và tích lũy DHT (dihydrotestosterone) tại tuyến tiền liệt kích thích sự tăng sinh tế bào.
Triệu chứng của bướu lành tiền liệt tuyến thường xuất hiện khi có hội chứng đường tiểu dưới và có thể chia thành hai nhóm biểu hiện là kích thích và tắc nghẽn. Nhóm triệu chứng kích thích gồm cảm giác luôn mắc tiểu, đi tiểu nhiều lần nhưng lượng nước tiểu ít, tiểu đêm nhiều lần và khó tiểu. Nhóm triệu chứng tắc nghẽn gồm tiểu ngập ngừng, ngắt quãng, cảm giác tiểu không hết và dòng nước tiểu yếu ớt. Kích thước của tiền liệt tuyến không phải luôn luôn song hành với triệu chứng tắc nghẽn. Đôi khi, bướu không lớn nhưng vẫn tắc nghẽn nhiều và ngược lại.


Việc chẩn đoán u xơ tiền liệt tuyến cần nhiều biện pháp

Việc chẩn đoán bướu lành tiền liệt tuyến cần nhiều biện pháp, chẳng hạn thăm khám tiền liệt tuyến qua ngõ trực tràng, siêu âm bụng, siêu âm qua trực tràng, làm một số xét nghiệm máu, xét nghiệm định lượng PSA trong huyết thanh. PSA là kháng nguyên đặc hiệu của tiền liệt tuyến (viết tắt tiếng Anh của chữ Prostate-Specific Antigen). PSA cũng tương ứng với kích thước tiền liệt tuyến nhưng có độ biến thiên cao. Những nghiên cứu gần đây cho thấy giá trị PSA có thể được dùng để tiên đoán nguy cơ của chứng bí tiểu cấp và phẫu thuật liên quan đến bướu lành tiền liệt tuyến. Trong chẩn đoán, rất cần thiết làm sinh thiết tiền liệt tuyến. Việc sinh thiết rất quan trọng vì giúp cho thầy thuốc có chẩn đoán cuối cùng. Mẫu sinh thiết được các nhà giải phẫu bệnh đọc dưới kính hiển vi để chẩn đoán và cũng để phân biệt với ung thư tiền liệt tuyến.
Bướu lành tiền liệt tuyến là một bệnh không nan y. Dù vậy, cũng có một vài biến chứng khó chịu của nó, đặc biệt là bí tiểu cấp. Bí tiểu cấp nếu không được giải quyết kịp thời (bằng cách đặt ống thông tiểu hay phẫu thuật mở bàng quang ra da) thì có thể gây vỡ bàng quang. Bên cạnh đó, khi bướu lành tiền liệt tuyến có hội chứng đường tiểu dưới (hơn 50% bệnh nhân bị bướu lành tiền liệt tuyến có hội chứng này ở mức độ từ trung bình đến nặng), nó ít nhiều ảnh hưởng đến sinh hoạt nói chung và sinh hoạt tình dục nói riêng. Thường gặp nhất là ban đêm phải đi tiểu nhiều lần, bị mất ngủ mà không ngủ được thì sẽ phát sinh ra bao hệ lụy. Một khảo sát đã được đăng tải trên tạp chí Niệu học Âu châu vào năm 2003 cho rằng sự giảm chất lượng cuộc sống do bướu lành tiền liệt tuyến gây ra thường gia tăng theo tuổi. Có tới 45% bệnh nhân cho rằng cuộc sống tình dục của mình bị suy giảm nghiêm trọng, bao gồm rối loạn cương dương và rối loạn phóng tinh. Mức độ suy giảm cuộc sống tình dục gia tăng theo mức độ nghiêm trọng của hội chứng đường tiểu dưới. Đã vậy, một số phương pháp điều trị bướu lành tiền liệt tuyến có thể gây rối loạn hoạt động tình dục.
Kể từ giữa thập niên 1970, việc điều trị nội khoa bướu lành tiền liệt tuyến đã có những tiến bộ đáng kể. Các thuốc thế hệ sau có hiệu quả hơn, ít gây tác dụng phụ hơn. Tác dụng phụ khó chịu nhất của thuốc điều trị bướu lành tiền liệt tuyến là hạ huyết áp. Đến nay, những loại thuốc mới điều trị bướu lành tiền liệt tuyến hầu như không còn tác dụng phụ này. Điều trị bằng phẫu thuật chỉ được thực hiện khi điều trị nội khoa thất bại.

Thứ Bảy, 7 tháng 12, 2013

những dấu hiệu của bệnh phi dai tuyen tien liet

Khi rối loạn nội tiết tố sinh dục nam; uống ít nước, ăn nhiều chất béo, sử dụng nhiều chất kích thích (thuốc lá, cà phê...)  gây phi dai tuyen tien liet.

 Ngoài ra, môi trường ô nhiễm, người mắc bệnh đường tiết niệu (viêm bàng quang), đái tháo đường, tiền sử gia đình có người bị phì đại tuyến tiền liệt...có nguy cơ dễ mắc bệnh phì đại tuyến tiền liệt.Và mọi người thường rất ít chú ý đến những bất thường khi đi tiểu để đến khi bị phì đại tuyến tiền liệt có triệu chứng đau rõ rệt mới đi khám thì đã muộn.
Ảnh minh họa. Nguồn: Internet

Khi nhỏ, tuyến tiền liệt có kích thước bằng hạt đậu Hà Lan. Khi 20 tuổi, có kích thước 15-20g. Giai đoạn tuổi từ 30-45 kích thước tuyến tiền liệt duy trì ổn định 20g. Giai đoạn từ 45 tuổi trở lên tuyến tiền liệt phát triển không ổn định, kích thước dần phình to (phì đại tuyến tiền liệt). Mức độ phì đại tuyến tiền liệt ở mỗi người khác nhau, bình thường ở mức 20g tăng thêm từ 30-80g, cũng có người 100 - 200g.

Sau đây là những dấu hiệu của bệnh phi dai tuyen tien liet:

Đa phần mọi người để tình trạng bệnh của mình có những triệu chứng như sau mới tiến hành đi khám
Khi có cảm giác buồn đi tiểu nhưng phải đứng một lúc trong nhà vệ sinh mới đi tiểu được, dòng nước tiểu nhỏ, cảm giác tiểu tiện không có lực, có lúc đái rắt.
Tiểu són: Nước tiểu tự bài tiết không thể kiềm chế khi ngủ. Nhiều trường hợp ban ngày cũng xuất hiện tình trạng tiểu són.
Tiểu ngắt quãng: Bệnh phì đại tuyến tiền liệt thường đi kèm với sự hình thành của sỏi bàng quang, làm cho quá trình đi tiểu đột nhiên bị ngắt quãng. Các triệu chứng trên sẽ nặng hơn nếu gặp lạnh hay do thường xuyên uống rượu bia hoặc sử dụng thuốc chống cholinergic và thuốc thần kinh.
Đi tiểu nhiều lần: Số lần đi tiểu ban ngày thường tăng lên 3-4 lần so với mức bình thường, 2-3 lần vào ban đêm. Khoảng cách giữa 2 lần đi tiểu ngắn, lúc nào cũng có cảm giác buồn đi tiểu.
 Tuyến tiền liệt bị phì đại
Tuyến tiền liệt bị phì đại.
Mặc dù, phì đại tuyến tiền liệt không quá nguy hiểm và có nhiều loại thuốc giúp cải thiện đáng kể tình trạng rối loạn đi tiểu của người bệnh, cũng như có nhiều phương pháp can thiệp nhưng cần được phát hiện sớm và điều trị kịp thời tránh những biến chứng như: Sỏi bàng quang, nhiễm trùng niệu tái đi tái lại, bí tiểu mạn tính, suy giảm chức năng thận... và có thể suy thận. Do vậy, khi thấy những dấu hiệu của bệnh cần đến bác sĩ chuyên khoa được khám và điều trị kịp thời.

Điều trị và theo dõi u xơ tien liet tuyen như thế nào?

u xơ tien liet tuyen la gi?

U xơ tuyến tiền liệt là bệnh lý xảy ra ở nam giới không, là sự phì đại lành tính của tuyến tiền liệt phải là bệnh lý ác tính.

Theo thống kê ở Việt Nam ta hiện nay có tới 45% đến 70% số nam giới trong độ tuổi từ 45 – 75 mắc căn bệnh này, tuổi càng cao thì tỷ lệ mắc bệnh càng lớn.



Làm thế nào phát hiện u xơ tien liet tuyen?


 
U xơ tuyến tuyền liệt nhìn chung thường bắt đầu vào độ tuổi trung niên. 
Để phát hiện u xơ tuyến tiền liệt (UXTTL), thông thường nhất là áp dụng 2 phương pháp: siêu âm tiền liệt tuyến và thăm khám tuyến tiền liệt qua đường hậu môn.
Ngoài ra còn có các phương pháp thăm dò hình ảnh khác như chụp cắt lớp vi tính, chụp cộng hưởng từ hạt nhân…
Nhưng siêu âm là phương pháp phổ thông và tiện dụng nhất, người bệnh cần nhịn đi tiểu để cho bàng quang căng to thì đánh giá tuyến tiền liệt mới chính xác được.
Siêu âm không những đánh giá về mặt hình thể mà còn giúp đánh giá được khối lượng của tuyến tiền liệt, kích thước, tính chất (âm đồng đều hay không đồng đều…) và đo được lượng nước tiểu tồn dư trong bàng quang (sau khi người bệnh đi tiểu hết) để đánh giá mức độ ảnh hưởng của bệnh.

Điều trị và theo dõi  u xơ tien liet tuyen như thế nào?

Không phải tất cả các bệnh nhân bị u xơ tuyến tiền liệt đều phải điều trị.

Những người không bị ảnh hưởng nhiều bởi các triệu chứng của UXTLT thì thường không điều trị nhưng phải được kiểm tra định kỳ để xem tình trạng bệnh có trở nên xấu đi hay không, đặc biệt cần xét nghiệm PSA để xem có bị ung thư tuyến tiền liệt hay không mà xử trí kịp thời.
– Điều trị nội khoa: với những người có triệu chứng rối loạn về tiểu tiện ảnh hưởng đến sinh hoạt hàng ngày thì trước mắt phải điều trị nội khoa.
Các thuốc được sử dụng phổ biến nhất hiện nay là thuộc nhúm ức chế alpha 1 có tác dụng làm giãn cơ trơn thành mạch, tuyến tiền liệt và cổ bàng quang giúp làm giảm bớt tình trạng tắc nghẽn niệu đạo do phì đại tuyến tiền liệt ví dụ alfuzosin (Xatral), terazosin (Hytrin), doxazosin, prazosin và tamsulosin.
Các thuốc ức chế alpha 1 không làm “tiêu” bướu mà chỉ giúp tiểu dễ do cổ bàng quang và niệu đạo dễ mở rộng khi đi tiểu. Thuốc này cũng làm giãn một số cơ vòng khác trong cơ thể và gây tác dụng phụ như giảm huyết áp. Chưa có thuốc nào được chứng minh là làm bướu nhỏ đi.
Ngoài ra còn một số thuốc khác như các thuốc kháng androgen như ức chế men 5-alpha-reductase nh­ finasteride (Proscar) và dutasteride thường được dùng phối hợp với thuốc trên để làm giảm triệu chứng. Tác dụng phụ của thuốc bao gồm giảm ham muốn tình dục, các vấn đề về cương dương hay phóng tinh.
– Điều trị bằng ngoại khoa hầu như là để giảm triệu chứng. Hiện nay phổ biến nhất là áp dụng phương pháp cắt bỏ tuyến tiền liệt bằng nội soi qua đường niệu đạo.
Khi tiền liệt tuyến quá to, không sử dụng được phương pháp cắt nội soi thì phải mổ bóc UXTTL.