U phì đại lành tính tuyến tiền liệt là loại u lành tính, không di căn.
Bệnh u phù đại này thường gặp ở những người cao tuổi.Triệu chứng:
+ Giai đoạn1:
- Là giai đoạn cơ năng, chưa có tổn thương thực thể.
- Đái khó, phải rặn đái lâu, dòng nước tiểu yếu, thời gian bãi đái kéo dài.
- Đái nhiều lần về đêm.
+ Giai đoạn 2:
- Đã có tổn thương thực thể.
- Nước tiểu tồn dư trên 100ml.
- Đái khó và đái nhiều lần tăng lên gây ảnh hưởng tới sinh hoạt và giấc ngủ.
- Có biểu hiện của nhiễm trùng. đường tiết niệu do sự ứ đọng nước tiểu.
+ Giai đoạn 3:
- Đã ảnh hưởng tới chức năng thận và sự thích ứng của cơ thể giảm sút nhiều.
- Lượng nước tiểu tồn dư tăng.
- Tình trạng nhiễm trùng đường tiết niệu nặng nề hơn.
- Đái khó tăng lên đến lúc gần như lúc nào cũng rặn đái.
- Có khi lại dẫn đến tình trạng nghịch lý là đái rỉ liên tục do nước tiểu tràn đầy.
- Xuất hiện các triệu chứng của suy thận như buồn nôn, ăn chậm tiêu, mệt mỏi...
Sự tiến triển của 3 giai đoạn này không
phải lúc nào cũng theo trình tự xuất hiện, nó phụ thuộc vào các yếu tố:
sự tăng trưởng của tuyến, sự thích ứng của cơ thể và cách sinh hoạt của
từng người. Tuy nhiên bất cứ giai đoạn nào của bệnh, bí đái cấp tính
cũng có thể xảy ra và đặt bệnh nhân trong tình trạng cấp cứu.
+ Có thể tóm tắt triệu chứng cơ năng thành hai hội chứng sau:
- Kích thích (Irritation syndrôm): Đái nhiều lần, đái vào ban đêm, đái vội, đái không tự chủ do quá mót đi đái.
- Tắc nghẽn (Obtrue syndrôme): Đái
ngập ngừng, ngắt quãng. Đái sót cuối cùng, đái không hết nước tiểu. Tia
nước tiểu hai dòng, dòng nước tiểu yếu. Cảm giác đái không hết nước
tiểu. Bí đái, đái không tự chủ do nước tiểu tràn đầy.Bệnh u phì đại có thể gây ra nhiều biến chứng do làm tắc đường dẫn niệu.
Tuyến
tiết ra dịch nhầy trắng, dịch của tuyến có tác dụng trung hoà môi
trường axit loãng của tinh dịch, nhờ vậy tinh trùng có điều kiện dễ di
chuyển từ âm đạo vào tử cung và vòi trứng. Theo một số tác giả thì dịch
của tuyến tiền liệt có tác dụng kích thích cho tinh trùng sau một thời
gian dài giữ lại ở mào tinh hoàn tiếp tục di chuyển và trung hoà môi
trường axit của âm đạo, ngoài thời gian phóng tinh tuyến tiền liệt không
tiết dịch. Tuyến tiền liệt được nuôi dưỡng bởi hai nguồn mạch, từ động
mạch bàng quang dưới (a.vesicalis inferior) và từ động mạch trực tràng
giữa (a.restalis media).
U phì đại tiền liệt tuyến có thể gây nhiều biến chứng nguy hiểm!
Biến chứng và tiến triển.
3.1. Bí đái hoàn toàn:có thể gặp bất kỳ giai đoạn nào của bệnh, đây cũng là lý do thường gặp buộc bệnh nhân phải tới viện.
3.2. Bí đái không hoàn toàn: gặp giai
đoạn 2 và giai đoạn 3 của bệnh, khi đã có nước tiểu tồn dư trong bàng
quang (ngay sau khi đi tiểu, đặt thông niệu đạo nước tiểu còn trên 100
ml).
3.3. Sỏi bàng quang: sỏi được hình thành
thứ phát do sự ứ đọng nước tiểu trong bàng quang. Khi sỏi bàng quang
được hình thành lại càng làm tăng các triệu chứng rối loạn tiểu tiện.
3.4. Đái máu: UPĐLTTTL đơn thuần rất
hiếm gặp biến chứng đái máu. Biến chứng này thường do đặt thông đái
không đúng kỹ thuật, do nhiễm trùng, do sỏi bàng quang.
3.5. Túi thừa bàng quang: do ứ đọng nước tiểu, bàng quang căng dãn quá mức, bàng quang mất tính chất đàn hồi.
3.6. Nhiễm trùng đường tiết niệu: là
biến chứng khó tránh, nó làm cho quá trình bệnh lý của bệnh thêm phức
tạp. Các triệu chứng toàn thân và tại chỗ xuất hiện rầm rộ hơn (sốt cao,
rét run, nước tiểu đục, chán ăn, mệt mỏi ...).
3.7. Suy thận: gặp ở giai đoạn cuối của
bệnh. Là kết quả ứ đọng nước tiểu kéo dài gây dãn niệu quản, dãn đài bể
thận, viêm đài bể thận ngược dòng. Bệnh nhân trong tình trạng thiếu máu,
buồn nôn, chán ăn, một mỏi, phù, huyết áp cao, thiểu niệu, vô niệu, hôn
mê do suy thận.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét