Lịch sử u xơ tiền liệt tuyến
Năm 1953, Gil Vernet chia tuyến tiền liệt thành 2 phần: phần trên ụ núi phát triển thành UXTTL, phần dưới ụ núi phát sinh ung thư TTL. Do đó 2 bệnh u xơ và ung thư tuyến tiền liệt hoàn toàn khác nhau.Năm 1981 Mc Neal chia tuyến tiền liệt thành 5 phần:
1. Tuyến tiền liệt trung tâm chiếm 20% khối lượng tuyến, bọc lấy ống phóng tinh nửa sau niệu đạo, phía trên ụ núi.
2. TTL ngoại vi, chiếm 70-75% khối lượng tuyến, có nhiều tổ chức biểu mô và rất ít tổ chức đệm. Vùng này là nơi phát sinh ung thư.
3. Phần quanh niệu đạo, ôm sát và bọc lấy 2/3 phía sau niệu đạo, chỉ chiếm 1% khối lượng tuyến.
4. Vùng chuyển tiếp gồm một số nhu mô tuyến và một ít chất đệm. Chính vùng này là nơi phát sinh và phát triển UXTTL.
5. Phần nằm trước niệu đạo là một giải cơ và xơ không có tổ chức tuyến. Như vậy trong khối u tuyến tiền liệt có cả tổ chức tuyến, tổ chức cơ và tổ chức xơ nên danh từ "u xơ tuyến tiền liệt" ta thường gọi là không đúng.
Hiện nay các nhà tiết niệu thống nhất danh từ: "U phì đại lành tính tuyến tiền liệt" (Benign prostatic hyperplasia) hoặc "adenom tuyến tiền liệt" (Prostatic adenom). Bệnh gây ra 2 hội chứng chính là "bít tắc" và "kích thích".
Hội chứng bít tắc: U phát triển làm cho niệu đạo bị kéo dài ra, thành bàng quang dày lên gấp 2-3 lần so với bình thường. Khi tiểu tiện áp lực trong bàng quang tăng lên từ 30cm nước lên đến 50-60cm hoặc hơn do bị bít tắc phía dưới. Thành bàng quang hình thành các cột và hang. Vùng tam giác bàng quang cũng phì đại cản trở dòng nước tiểu từ thận xuống. "Van" lỗ niệu quản mất khả năng bù trừ làm nước tiểu trào ngược gây giãn niệu quả và đài - bể - thận. Nhiễm khuẩn phát triển gây viêm bể thận - thận dẫu tới suy thận.
Hội chứng kích thích: bệnh nhân luôn buồn tiểu cả ngày lẫn đêm nhất là nửa đêm về sáng.
Cả 2 hội chứng trên làm người bệnh rất khổ sở vì tình trạng phải rặn tiểu, tiểu rỏ giọt, tiểu gấp, tiểu ngập ngừng, tiểu xong không thoải mái...
Phương pháp điều trị u xơ tiền liệt tuyến:
Tùy theo mức độ bệnh mà quyết định
Chăm sóc và theo dõi: Không phải ca nào cũng phải mổ nên việc chăm sóc và theo dõi là rất quan trọng. Craigen theo dõi 251 bệnh nhân trong 6 năm thì 35% có thời kỳ bị bí tiểu cấp, 39% phải phẫu thuật còn 12% hết triệu chứng trở lại bình thường.
Việc chăm sóc bao gồm: động viên bệnh nhân khám định kỳ kịp thời ơhát hiện biến chứng. Ăn uống điều độ, không bia, rượu, thuốc lá, không ăn các gia vị nóng, không ngồi xe đạp, xe máy đường xa, vận động hợp lý, chống táo bón, uống đủ nước từ sáng tới trưa, chiều và tối giảm lượng nước.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét